Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

6/8/15

Lão nông Bhaskar Save
Đến với nông nghiệp hữu cơ từ việc sớm nhận ra cái vòng luẩn quẩn của việc sử dụng phân hóa học, Bhaskar Save ngày nay nổi tiếng khắp thế giới bởi những triết lý canh tác hài hòa với thiên nhiên và hoàn toàn không cần đến sự can thiệp của hóa chất.

Bhaskar Save sinh năm 1922 trong một gia đình có truyền thống làm nghề nông ở một ngôi làng xinh đẹp thuộc Dihri, bang Gujarat, tây bắc Ấn Độ. Ông có tuổi thơ hạnh phúc và khi nhớ về những năm tháng trưởng thành của mình, ông nói: “Trồng trọt là một phần tự nhiên, thuộc về văn hóa của cuộc sống, và thay đổi tùy theo mùa. Nó là một nghề đẹp đẽ, chứ không phải một cuộc vật lộn đầy những khổ sở và lo lắng mà các phương thức canh tác hiện đại đã biến nó thành như vậy.” Bhaskar Save lớn lên trên đồng ruộng của gia đình, trồng những nông sản truyền thống như lúa, đậu và rau. Trong hơn 10 năm là nhà giáo, ông vẫn thường xuyên làm việc ngoài đồng tất cả các ngày từ 6 giờ đến 10 giờ.

Giã từ hóa chất

Năm 1951, cùng với việc làm hệ thống tưới tiêu, ông trở thành người đầu tiên ở làng sử dụng phân bón hóa học. Ông bắt đầu có những vụ mùa bội thu tới mức giám đốc một công ty phân bón đã trao cho ông quyền đại diện để tiếp thị sản phẩm! Ông đã bị thuyết phục, cũng như đi thuyết phục người khác về hình thức trồng trọt mới và trở thành “người nông dân kiểu mẫu” trong những ngày đầu của “cuộc cách mạng Xanh”. Giữa những năm 1950, ông mua một héc-ta đất thích hợp cho việc trồng lúa. Đây chính là nền tảng cho nông trại Kalpavruksha hiện nay của ông. Nhưng Save sớm nhận ra rằng, ông đã đi vào vòng luẩn quẩn với việc sử dụng phân hóa học. Để tránh giảm sản lượng, ông phải sử dụng ngày càng nhiều phân bón vô cơ.

Mahatma Gandhi có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Bhaskar Save từ rất sớm. Những ý tưởng của Gandhi đã tạo cảm hứng cho “thí nghiệm hữu cơ với sự thật” của Save – như cách ông gọi sự chuyển đổi của mình sang canh tác hữu cơ.

Ban đầu, năng suất cây trồng giảm đáng kể. Nhưng – cũng chính lúc đó – ông nhận ra rằng, ông đã được hưởng lợi từ việc giảm chi phí sản xuất, khiến ông thu lợi nhuận ngay trong năm đầu tiên chuyển hướng canh tác (Ông không chuyển đổi toàn bộ trang trại sang canh tác hữu cơ ngay. Trước hết, với những sản phẩm rau để bán, ông vẫn tiếp tục sử dụng phân bón hóa học). Kết quả, ông đã gần như nhân đôi số ruộng và xây được một căn nhà nhỏ cho gia đình mình. Đối mặt với những khó khăn trong tiêu thụ các sản phẩm rau (do thừa cung), ông chuyển sang trồng cây ăn quả và cây lấy hạt. Cuối cùng, ông chấm dứt sử dụng mọi chất hóa học trên nông trại. Ngày càng có những phát triển đa dạng trên cánh đồng của ông: không chỉ có chuối, ông còn trồng cả dừa và đu đủ. Ông đã xây dựng hệ thống luống đánh cao, được ngăn cách bởi các rãnh tưới tiêu, để trồng cây. Dần dần, hình thức canh tác hữu cơ đem lại năng suất cao hơn (trong khi chi phí lao động đầu vào giảm đáng kể), dẫn đến thu nhập tăng.

Save chia sẻ kiến thức sâu rộng của mình đến những người khác bằng cách viết báo và góp phần vào việc xuất bản các ấn phẩm được tài trợ bởi Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc. Trong ba thập kỉ qua, hàng chục bài báo đã viết về Bhaskar Save và phương thức canh tác hữu cơ của ông – không chỉ bằng tiếng Anh mà còn bằng tiếng Marahati, Gujarati, Hindi và một số thứ tiếng khác.

Triết lý của Save

Nói về phương pháp canh tác của mình, Bhaskar Save cho rằng trồng trọt phải đáp ứng các nhu cầu của mọi sinh vật sống bởi bản thân tự nhiên đã luôn luôn tự cung cấp mọi thứ chúng ta cần.

Canh tác hữu cơ dựa trên sáu yến tố cơ bản Đất- Nước - Không khí - Giống thực vật - Côn trùng và vi sinh vật - Các giống động vật, mà trong đó con người là một phần. Mục tiêu là để con người được sống hạnh phúc mà không phải ăn bữa trước lo bữa sau. Sự tương tác của sáu yếu tố tạo nên một hệ thống ổn định, có thể tự sinh sản.
Tôi tin tưởng rằng chỉ bằng cách canh tác hữu cơ trong sự hài hòa với thiên nhiên thì Ấn Độ mới có thể cung cấp được nguồn thực phẩm phong phú và lành mạnh một cách bền vững, đáp ứng nhu cầu cơ bản của tất cả mọi người – đó là được sống khỏe mạnh, có nhân phẩm và hòa bình.
Bhaskar Save
Save cho rằng, điều đầu tiên cần phải hiểu là không được làm gì ảnh hưởng đến sáu yếu tố của cuộc sống và không can thiệp vào các nguyên tắc sau:

1. Không có sinh vật nào là kẻ thù của nhau.

2. Về bản chất, không có gì là vô dụng – tất cả mọi vật đều đóng một vai trò riêng, kể cả cỏ dại!

3. Hoa lợi của tự nhiên không giống như việc sản xuất một sản phẩm. Tất cả các phần của hoa lợi đều có thể sử dụng được, ví dụ như năng lượng sinh khối, sau khi chúng ta đã dùng các loại quả và hạt của cây, sinh khối có thể được sử dụng để tái tạo đất.
4. Con người có quyền gieo hạt và quả, nhưng chỉ có khoảng 10 – 15% những gì được gieo sẽ phát triển. Còn lại 85 – 90% có thể được sử dụng để tái tạo độ màu mỡ của đất.

5. Phần còn lại của cây trồng, các sinh vật sống của lòng đất có quyền sử dụng.
6. Nông nghiệp là một hoạt động thiêng liêng, và vì nó chăm sóc cho trái đất của chúng ta, nó khác biệt với các ngành kinh doanh khác. Tất cả hoa lợi của bạn đều là lợi nhuận.

Bhaskar Save đã nhận được nhiều danh hiệu và giải thưởng khác nhau, trong đó phải kể đến giải thưởng “Nông dân trồng dừa giỏi nhất” của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Ấn Độ. Ông thường xuyên được mời tham gia tư vấn và giảng dạy. Nhưng việc ông thích nhất là nói chuyện với những người nông dân tập sự. Mỗi thứ bảy, lại có rất đông người đến gặp Save và thăm nông trại của ông để học hỏi những kiến thức về canh tác hữu cơ.

Những kiến thức, kinh nghiệm của Bhaskar Save đều được ghi lại Bharat Mansata – một nhà khoa học tình nguyện đi theo Bhaskar Save từ hơn 30 năm nay- ghi lại. Bharat Mansata cũng là người đứng tên xuất bản mọi ấn phẩm của người nông dân tài hoa này.

Năm 2006, Bhaskar Save đã viết và xuất bản một loạt bức thư ngỏ với các chứng cớ mạnh mẽ gửi đến M.S. Swanimathan, người được coi là cha đẻ của “cuộc cách mạng Xanh” Ấn Độ và cũng là Chủ tịch Ủy ban Nông dân Quốc gia. Sự phê phán của Save dành cho Swanimathan rất dữ dội và... dũng cảm: “Ngài là cha đẻ của “cuộc cách mạng Xanh” Ấn Độ, cái đã mở tung cửa cho các chất độc từ hóa chất nông nghiệp, tàn phá các mảnh đất và cuộc sống của hàng triệu người nông dân Ấn Độ trong suốt 40 năm qua.”

Mặc dù lên tiếng chỉ trích, nhưng Save vẫn giành được sự kính trọng của Swanimathan. Swanimathan đã viết thư trả lời Save: “Tôi ngưỡng mộ công việc của ông từ lâu và tôi rất biết ơn về những gợi ý chi tiết, [...] những nhận xét và kiến nghị có giá trị. Chúng tôi sẽ xem xét chúng.” Những bức thư của họ sau này được xuất bản dưới tên gọi “The great agricultural challenge” (Thách thức lớn về nông nghiệp) và được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Giải thưởng One World Award của IFOAM1 tôn vinh Bhaskar Save như một trong những người tiên phong và có ảnh hưởng nhất trong phong trào canh tác hữu cơ. Với bề dày sáu mươi năm kinh nghiệm, ông đã truyền cảm hứng và động viên ba thế hệ nông dân Ấn Độ đi theo hình thức canh tác này. Save là minh họa cho sức mạnh của việc giáo dục theo hướng “từ nông dân đến nông dân” và thật không có gì quá khi người ta ca ngợi ông như “Gandhi của nền nông nghiệp hữu cơ Ấn Độ”.

Đất: Đất đang sống và những người theo đạo Jain đều có ý thức sâu sắc về điều này. Hàng triệu vi sinh vật tồn tại trong lòng đất. Mỗi sinh vật đều có quyền được  sống, vì thế chúng không nên bị tiêu diệt bởi thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ.

Chúng tôi chủ trương canh tác một cách tối thiểu trên mảnh đất đã được phát triển để sử dụng từ khi chúng tôi mới bắt đầu, không nên sử dụng đất quá mức (mặc dù rất khó để có thể đạt được điều này!)

Hãy nghĩ đến những cánh rừng, chúng tự tái sinh và tạo ra bầu không khí trong lành và có thể tự bảo vệ mình khỏi những xáo trộn mà con người gây nên. Đây là một ví dụ của việc thiên nhiên tự bảo vệ mình. Trong rừng có hổ và rắn như những người bảo vệ nhưng hãy nghĩ đến cả những chú voi và bàn chân to lớn của chúng đã giúp làm đất trở nên tơi xốp. Thiên nhiên tự vệ và thiên nhiên bảo vệ.

Cỏ dại: Cỏ dại là một phước lành. Chúng có thể bảo vệ mặt đất khỏi bị xói mòn do nắng mặt trời, mưa và gió. Hãy quản lý và kiểm soát cỏ dại, chứ không phải tiêu diệt chúng. Hãy xem cỏ dại là lớp mùn cho mặt đất, sẽ là đất trọc nếu bạn diệt trừ cỏ dại. Như cái đầu của một người hói, tóc/cây sẽ không mọc trở lại. Cỏ dại sẽ không gây hại nếu như nó không cao hơn cây trồng của bạn.

Các công đoạn của trồng trọt

Hoạt động trồng trọt gồm năm công đoạn: Làm đất - Bón phân - Tưới nước – Bảo vệ cây trồng - Làm cỏ. Người nông dân có thể cần nước để tưới nhưng thường thì tự nhiên sẽ tự chăm sóc tất cả những mảng được đề cập phía trên. Với phương thức canh tác hữu cơ, bạn chỉ cần 10 – 15% nước so với các cách thức trồng trọt truyền thống.

Làm đất: Giun đất thật tuyệt vời! Một ngày, chúng trở lên mặt đất 10 – 15 lần để hít thở và chính nhờ vậy mà chúng đã giúp đất thông khí. Giun đất tiêu thụ một lượng vi sinh vật bằng 1.5 lần trọng lượng cơ thể chúng mỗi ngày và khi tiêu thụ các vi sinh vật,
chúng giải phóng vào lòng đất các khoáng chất cần thiết như ni tơ, ma giê, v.v. Thông qua sự bài tiết của giun đất, mặt đất trở nên màu mỡ và nhờ quá trình hô hấp của loài vật này mà mặt đất được cung cấp đủ ô xi và độ ẩm.

Bón phân: Các chất phân hủy rất quan trọng cho sự màu mỡ và độ ẩm của đất. Chất hữu cơ không phải là thức ăn cho đất nhưng là thức ăn cho các loài động vật, mà phân của chúng giúp nuôi dưỡng đất.

Tưới tiêu: Đất cần ít nước hơn bạn tưởng. Ta cần độ ẩm, chứ không phải lũ lụt, ngập úng hay tưới quá nhiều. Đất cần đá để thông khí và tiếp nhận nước một cách vừa phải. Bạn không nên tưới quá nhiều, vì như thế đất sẽ mất ô xi và cây trồng sinh trưởng không tốt.

Rễ cây sẽ vươn dài tương ứng với độ rộng của tán lá phía trên mặt đất. Nên tưới nước dưới bóng râm và tưới ở vị trí tương ứng với mép của tán lá, để kích thích rễ cây phát triển.

Bảo vệ cây trồng: Trong số 1,25 triệu loài côn trùng thì chỉ có 1% tấn công thực vật. Thuốc trừ sâu có khả năng diệt trừ các loài côn trùng gây hại, nhưng không loại bỏ được trứng của những loài này, cho nên cũng không đạt hiệu quả cao. Thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu không được khuyến khích trong canh tác hữu cơ.

Xen canh là cách thức tốt hơn để bảo vệ cây trồng bằng việc trồng những giống cây thu hút sâu bọ ra khỏi các cây trồng chính. Những giống cây có thể sử dụng cho mục đích này có cây Neem (có vị chát) và cúc vạn thọ (khiến côn trùng vô sinh).

Bhaskar Save
Nguồn: Internet
Theo thống kê mới nhất  của Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có thêm khoảng 200.000 người phát hiện bị ung thư. Chất độc từ khắp nơi trên thế giới đang đổ về VN vì chúng ta chưa có biện pháp ngăn chặn hợp lý mà quan trọng hơn là vì những khoản lợi nhuận kếch sù của các doanh nghiệp.

Có những chất độc được ghi cụ thể để người dân còn biết đường phòng tránh, nhưng còn nhiều chất độc khác được ngụy trang thành chất bảo quản, chất gia vị. Riêng chất độc trong phân bón đang thực sự trở thành mối họa tiềm ẩn với nông dân.

Chất độc thành phân bón lá cao cấp

Vì có người nhà mắc bệnh mỡ máu nên vừa qua trên đường từ huyện Tháp Mười, tỉnh Đông Tháp chúng tôi ghé mấy ao sen ở xã Đốc Binh Kiều (huyện Tháp Mười) tính xin mấy lá sen về làm thuốc. Vừa bước vào căn chòi bên bờ ao chợt xộc lên mùi cay nồng chảy cả nước mắt – chủ ao sen đang pha thuốc chuẩn bị xịt cho sen, tôi nhìn chai thuốc hóa ra đấy là PHÂN BÓN LÁ CAO CẤP BOOM FLOWER-n của Công ty BVTV An Giang, thành phần hóa chất được ghi rất cụ thể: Nitro Benzen: 20%; Chất trải bề mặt: 40%; Phụ gia: 40%.

Thật bất ngờ chất độc Nitro Benzen lại được đăng ký và quảng cáo rất rầm rộ với tên thương mại Boom Flower-n. Trên trang web của Công ty BVTV An Giang có tới 28 bài viết mô tả Nitrobenzen như một loại…thần dược, nào là tăng năng suất trên lúa, chống ngộ độc hữu cơ, hồi phục sức khỏe cho lúa khi bị xịt thuốc rầy quá nhiều, rồi hạn chế rụng quả, tăng năng suất cho cà phê…Bạo hơn, Cty còn khuyến cáo dùng “PHÂN BÓN LÁ CAO CẤP” này cho cả cây rau màu ngắn ngày từ hành lá tới đậu đỗ, dưa leo, khổ qua, dưa hấu, cà chua…

Đặc biệt nguy hiểm và tệ hại hơn khi bà Nguyễn Thị Tân, PGĐ Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cây ăn quả & cây công nghiệp tỉnh Lâm Đồng khẳng định: “Boom Flower rất phù hợp cho giải pháp nâng cao năng suất và chất lượng cây chè tại tỉnh Lâm Đồng”.

Không chỉ quan chức cấp tỉnh phía Nam “ủng hộ hoành tráng” như bà Tân mà Nitrobenzen cũng được một số quan chức ở vùng vải thiều Hải Dương và một số tỉnh phía Bắc “nhiệt liệt hoan nghênh”. Xa hơn, Cty BVTV An Giang còn đưa “PHÂN BÓN LÁ CAO CẤP” này vào chương trình quảng bá rầm rộ nhất ngành NN&PTNT “Cùng nông dân ra đồng”, thậm chí còn thông qua Trường Đại học Cần Thơ để rao cùng sinh viên.
Nông dân đang sử dụng phân bón lá mà không biết trong đó có chất độc
Không phải một “bom” mà rất nhiều “bom”

Khi đi tìm hiểu để viết bài này chúng tôi mới biết không chỉ một Cty BVTV An Giang giàu có đã dám đưa Nitrobenzen làm phân bón mà rất nhiều công ty khác nhỏ hơn, nghèo hơn cùng ăn theo, cùng đăng ký là PHÂN BÓN LÁ và cùng “nổ” như…bom. Trên thị trường hiện có trên 10 loại sản phẩm “ăn theo”, nào là Bom vàng (BOM Gold) của Cty TNHH Hóa Nông, nào là Bom Mỹ (BOM USA) của Cty TNHH Á Châu, nào là Bom bi (BOM bi Muti Super) của Cty Nông Việt Đức, nào là BOM mới (BOOM newer) của Cty TNHH Tấn Hưng, nào là siêu BOM (Super BOM) của Cty TNHH Anh Em…Trong hàng loạt “Bom” trên đều được trình bày nhãn đẹp, kiểu chai, công dụng, cách dùng na ná như Boom Flower-n của Cty BVTV An Giang.

Điều nguy hiểm hơn là trong thành phần công bố chỉ có sản phẩm MDV BOMY (của MDV Agrochem) ghi có Nitrobenzen như Boom Flower-n còn các sản phẩm khác đều giấu nhẹm chất độc trên mà chỉ ghi chung chung là khoáng, vi lượng và vitamin. Ví dụ nhãn của Bom Gold ghi: Khoáng đa trung vi lượng, vitamin, kích thích sinh trưởng; Bom USA ghi: Khoáng đa trung vi lượng; Bom newer ghi: Các khoáng đa trung vi lượng, Super Bom ghi: Các khoáng đa trung vi lượng, Nitro phenol; Bom bi ghi: Các khoáng đa, trung, vi lượng, hữu cơ…

Mặc dù giấu nhẹm chất độc Nitrobezen nhưng khi đọc qua công dụng và thành phần cũng như ngửi mùi cay nồng xốc đến ói mửa thì có thể khẳng định – Nitrobenzen là thành phần chính của những “PHÂN BÓN LÁ CAO CẤP” trên.

Ý kiến của TS Nguyễn Trung Bình, Trưởng bộ môn Đất- Phân (Viện KHKT Nông nghiệp Miền Nam)

Với cây trồng, Nitrobenzen là chất ức chế sinh trưởng. Năm 2006, chính tôi đã làm khảo nghiệm chất này nhưng lúc đó ý kiến các nhà khoa học chưa thống nhất với nhau. Nitrobenzen rõ ràng là một chất độc, nhưng vẫn có thể dùng cho nông nghiệp, nhưng để quản lý được, có chỉ định cụ thể, có cảnh báo an toàn thì theo tôi không nên để đăng ký bên phân bón mà phải được quản lý bên thuốc BVTV.

Hơn nữa trong quyết định 100/2008/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về quản lý phân bón có ghi rằng “Tổng hàm lượng các chất điều hoà sinh trưởng so với khối lượng sản phẩm đối với phân có bổ sung chất điều hoà sinh trưởng thì định lượng bắt buộc phải nhỏ hơn hoặc bằng 5%”, nên việc đưa chúng khỏi danh mục phân bón là cần thiết.

Nitro Benzen độc hại như thế nào?

Theo những tài liệu về hóa học mà chúng tôi có được Nitrobenzen có công thức C6H5NO2, công thức cấu tạo có nhân thơm benzen điển hình, được dùng trong công nghiệp sản xuất anilline, xà phòng, xi đánh giày, thuốc nhuộm, thuốc nổ và thuốc bảo vệ thực vật, chất điều hòa sinh trưởng cây trồng…

Độc tính của Nitrobenzen được ký hiệu R23: Độc qua đường hô hấp, R24: Độc qua tiếp xúc với da, R25: Độc qua đường tiêu hóa, R40: Cơ sở của tác nhân gây ung thư, R48: Độc nếu tiếp xúc lâu dài, R51: Độc với động vật thủy sinh, R62: nguy cơ giảm khả năng sinh sản.

Trên người: khi tiếp xúc qua da làm da bỏng rát; khi thở phải gây thiếu ôxy trong máu; khi nuốt phải bị đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, hôn mê và ngừng thở. Liều gây chết qua đường miệng từ 1- 5 gam. Những người thường tiếp xúc sẽ mắc chứng thiếu huyết cầu tố, ngộ độc gan (gan to, vàng da, biến đổi hóa tính huyết thanh, lách to), ngộ độc thần kinh (nhức đầu, nôn ói, choáng, mất thăng bằng, mất cảm giác tay chân…), tiềm ẩn gây ung thư…

Thời gian phân hủy của Nitrobenzen tùy thuộc nhiều yếu tố nhưng từ 64 ngày – 125 ngày.

Còn nhớ “một Chernobyl hóa chất” xảy ra ngày 13/11/2005 tại NM Hóa chất Cát Lâm, tỉnh Hắc Long Giang – Trung Quốc làm 100 tấn Benzen và Nitrobenzen tràn ra môi trường khiến cho 10.000 người phải sơ tán và cá trên sông Tùng Hoa chết trắng kéo dài cả 100km.






Theo báo Nông Nghiệp

29/7/15

Các tỉnh Tây Nguyên, gồm Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng là vùng trọng điểm sản xuất cà phê, hồ tiêu của cả nước - hai sản phẩm chủ lực đã tạo dựng được danh tiếng trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, các nhà quản lý vẫn chưa xây dựng được thương hiệu chung về cà phê và hồ tiêu Tây Nguyên.

Tại hội thảo “Liên kết phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên” được tổ chức mới đây tại thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), các nhà khoa học, nhà quản lý và các chuyên gia ngành nông nghiệp, thương mại, dịch vụ đều cho rằng các tỉnh Tây Nguyên cần sớm xây dựng thương hiệu chung cho cà phê, hồ tiêu để tăng giá trị gia tăng, đồng thời sử dụng thương hiệu chung này làm công cụ để quản lý diện tích, quy hoạch vùng nguyên liệu và liên kết vùng.

Theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay, Tây Nguyên chỉ mới có chứng nhận Chỉ dẫn địa lý cho cà phê Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), chứng nhận này cũng chỉ mới cấp cho hạt cà phê chứ không phải cho chung cà phê chế biến.

Việc khai thác giá trị thương mại của chứng nhận chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột này kém hiệu quả vì chỉ mới một phần diện tích, chủ yếu là cà phê Buôn Ma Thuột và một vài huyện của tỉnh Đắk Lắk được cấp quyền sử dụng chứng nhận chỉ dẫn địa lý, số lượng cơ sở đăng ký sử dụng nhãn hiệu chỉ dẫn địa lý còn quá ít.

Chứng nhận nhãn hiệu tập thể cho hồ tiêu Chư Sê (Gia Lai) ít có giá trị thương mại quốc tế do nhiều nước không chấp nhận loại nhãn hiệu này. Trong khi đó, trên thực tế, hai sản phẩm cà phê và hồ tiêu Tây Nguyên đã khá nổi tiếng trên thế giới.

Hiện nay, Tây Nguyên có trên 573.400 ha cà phê, chiếm trên 89% diện tích cà phê của cả nước, với sản lượng mỗi năm đạt từ 1,2 đến trên 1,3 triệu tấn cà phê nhân, chiếm trên 90% sản lượng cà phê xuất khẩu của cả nước.

Hồ tiêu có diện tích trên 43.955 ha, chiếm gần 52% diện tích của cả nước, với sản lượng mỗi năm đạt từ 80.000 tấn trở lên, chiếm gần 55% sản lượng tiêu xuất khẩu của cả nước.

Cà phê và hồ tiêu của vùng Tây Nguyên tuy nổi tiếng về chất lượng và năng suất nhưng do mới được xuất khẩu chủ yếu ở dạng hạt thô và chưa có thương hiệu nên giá trị gia tăng còn thấp.

Trong mấy năm qua, các nông hộ sản xuất cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên đã áp dụng tốt các biện pháp khoa học kỹ thuật vào thâm canh cây cà phê, hồ tiêu nên năng suất đạt khá cao, cà phê đạt bình quân 22,2 tạ nhân/ha, tiêu đạt 21,6 tạ/ha, được xếp vào loại cao nhất thế giới.

Đặc biệt, trong vài năm trở lại đây, các nông hộ sản xuất cà phê ở Tây Nguyên còn đưa các giống cà phê mới vào trồng tái canh hoặc ghép trong quá trình cưa đốn phục hồi làm “trẻ lại” các vườn cà phê già cỗi hết chu kỳ kinh doanh. Đây là các giống cà phê cho năng suất từ 4-7 tấn cà phê nhân/ha, kháng được bệnh gỉ sắt, nhân to.

Các nông hộ sản xuất cà phê còn chú trọng mở rộng diện tích sản xuất càphê có chứng nhận theo các bộ quy tắc của Utz Certify, 4C, Rainforest Aliance… để góp phần phát triển cà phê bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng tốt hơn cho thị trường cà phê xuất khẩu trên thế giới.

Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên quá nhanh (cà phê tăng bình quân 2,8%/năm, hồ tiêu tăng 18%/năm) đã có những bất cập như không đúng quy hoạch, thiếu giống tốt.

Diện tích cà phê, hồ tiêu ngoài quy hoạch thường ở các địa bàn không phù hợp cho phát triển cà phê, hồ tiêu hoặc từ đất phá rừng đầu nguồn các con sông.

Có một tỷ lệ lớn vườn cây (cà phê, hồ tiêu) già cỗi hết chu kỳ kinh doanh, cần phải trồng tái canh. Tuy nhiên, các nông hộ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng, thiếu giống tốt…

Đa phần các nông hộ sản xuất cà phê, hồ tiêu còn thực hành theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ thuật, quản trị cơ sở sản xuất, kiến thức thị trường, nên năng lực hạn chế.

Điều này dẫn đến việc áp dụng thực hành sản xuất không phù hợp, lạm dụng hóa chất, thu hoạch không đúng kỹ thuật, sử dụng giống không đảm bảo, chất lượng sản phẩm không đồng đều.

Việc liên kết theo chuỗi giá trị trong sản xuất cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên còn nhiều hạn chế. Hợp tác xã, tổ hợp tác chưa thu hút được sự tham gia của các nông hộ, chưa phát huy được vai trò​ hỗ trợ các thành viên và là đầu mối cho liên kết doanh nghiệp với các nông hộ…

Theo các chuyên gia thị trường, trong các năm tới, cùng với việc sớm xây dựng thương hiệu chung cho cà phê, hồ tiêu vùng Tây Nguyên, các tỉnh Tây Nguyên cần nhanh chóng rà soát, điều chỉnh quy hoạch, tổ chức lại sản xuất, liên kết theo chuỗi, thu hút doanh nghiệp, đồng thời ứng dụng tốt các tiến bộ khoa học công nghệ…, nhằm mục tiêu đưa ngành hàng cà phê, hồ tiêu xuất khẩu tập trung quy mô lớn, hiện đại, có tính cạnh tranh quốc tế cao.

Bên cạnh đó, cần phát triển ngành hàng theo liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm gắn với quản trị hiện đại, chứng nhận chất lượng và an toàn thực phẩm, góp phần phát triển bền vững ngành hàng cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên.
Nguồn TTXVN
Tờ báo Daily Mail của Anh vừa có bài viết số ra Ngày hôm nay 28/7/2017 nói về tình hình hồ tiêu thế giới có liên quan tới Việt Nam. VPA xin gửi tới các Hội viên
  • Tiêu dùng hạt tiêu đã tăng tới 60% trong vòng 10 năm qua;
  • Nhu cầu tăng mạnh nhất là ở Trung Đông, tăng tới 200%;        
  • Giá hạt tiêu bán sỉ đã tăng tới 310%;    
  • Lo ngại siêu thị có thể ngay lập tức đẩy giá bán lên cho người mua.
Rắc thêm hạt tiêu làm tăng gia vị cho bữa ăn của bạn có thể khiến chi phí của bạn tăng lên. Chi phí cho việc rắc thêm chút tiêu lên thực phẩm của bạn đã đẩy giá hạt tiêu tăng lên.

Giá bán sỉ hạt tiêu cao liên tục suốt thời gian qua sau khi tăng vọt hơn 300% trong suốt 5 năm qua.

Nhu cầu của các nước Trung Đông tiếp tục tăng mạnh sau khi giá tăng 40% trong thời gian qua.

Cho tới nay, hệ thống các siêu thị đã chấp nhận chi phí bán sỉ tăng nhưng các chuyên gia bán lẻ cho rằng các nhà bán lẻ cần phải chuẩn bị tinh thần giá sẽ cao hơn.

Việt Nam là nhà sản xuất và xuất khẩu hồ tiêu lớn nhất thế giới. Giá hạt tiêu hiện nay Việt Nam xuất vào Châu Âu là khoảng 7.65 Euros /kg, tăng 40% so với năm trước.

So với 5 năm trước, giá hạt tiêu đã tăng tới gần 310% theo Công ty Nghiên cứu Thị trường Mintec.Có thể nói nguyên nhân giá hồ tiêu cao là do nhu cầu thị trường.

Từ 1991 đến 2011, nhu cầu của mặt hàng hồ tiêu ở các thị trường mới nổi như Đông Nam Á đã tăng gần 4 lần. Nhu cầu sử dụng hạt tiêu của Trung Quốc đã tăng hơn 200% trong thời gian này.

Tiêu dùng hạt tiêu cũng đã tăng mạnh ở các thị trường truyền thống, tăng khoảng 15% ở Châu Âu; 45% ở Bắc Mỹ khi người tiêu dùng muốn gia tăng hương vị nhiều hơn cho các bữa ăn của họ. Chính điều này đã khiến tiêu dùng gia vị toàn thế giới đã tăng tới 60%, đạt tới 430.000 tấn năm 2011.

Các thị trường mới như Trung Đông là do nhu cầu tiêu thụ cao hơn khi người tiêu dùng muốn tăng thêm gia vị trong những đĩa thức ăn của họ.

Trong khi đó, do vấn đề sản xuất ở Việt Nam, sản lượng đã bị giảm khoảng 13% càng làm tăng áp lực đẩy giá thế giới lên. Các nhà nhập khẩu hiện đang quay sang mua của một số nước khác như Ấn Độ, Sri Lanka và Indonesia.

Jara Zicha, một chuyên gia phân tích thị trường của Mintec, đã nói với Tạp chí Grocer: “ Ngay cả khi sản lượng của các nhà sản xuất nhỏ có cao thì nhu cầu thị trường tăng cao và sản lượng thấp hơn của Việt Nam cũng sẽ giữ giá hồ tiêu thế giới luôn ở mức cao”.

Nhu cầu tiêu dùng hạt tiêu toàn cầu đã tăng 60% trong thập kỷ qua, theo như nghiên cứu của Mintec.


Đọc thêm nội dung này tại đây
Theo VPA

23/7/15

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) vừa cho biết, tuần qua, giá hồ tiêu trong nước đã “hạ nhiệt” sau nhiều lần tăng. Giá hồ tiêu giảm khoảng 5.000 đồng/kg. Hiện giá tiêu tại các vùng trọng điểm như Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Bình Phước khoảng 201-203 nghìn đồng/kg.

VPA cho hay, quý II/2015 vừa rồi, hồ tiêu Việt Nam có lợi thế xuất khẩu do nguồn cung từ các nước giảm. Từ quý III trở đi, các nhà nhâp khẩu có thể mua tiêu của Indonesia và Malaysia. Theo VPA, lợi thế xuất khẩu hồ tiêu quý II vừa qua không như mong muốn, vì tiêu Việt Nam chủ yếu bán thô, vướng quy định khắt khe về kiểm tra chất lượng và an toàn thực phẩm của nước nhập khẩu, đặc biệt là EU.

Hiện trong nước xuất hiện tình trạng “găm hàng” hồ tiêu trong dân và đại lý, giá tiêu nội địa cao gây khó và chưa hấp dẫn các doanh nghiệp xuất khẩu.

Theo: Nam Khánh
 tienphong.vn 

6/7/15

Ngày 12/06/2015, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 5898/QĐ-BCT về việc phê duyệt và công bố danh sách “Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín” năm 2014. Mặt hàng Hồ tiêu có 21 doanh nghiệp được vinh danh.

Chương trình Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín do Bộ Công Thương thực hiện từ năm 2004 đến nay đã nhận được sự hưởng ứng tích cực từ các cơ quan hữu quan và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu trên cả nước. Đây là một trong các hoạt động xúc tiến thương mại của Bộ Công Thương, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đối tác nước ngoài tìm hiểu và xúc tiến giao thương với doanh nghiệp Việt Nam. Mục tiêu của hoạt động này là nhằm ghi nhận đóng góp tích cực của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam với đối tác nước ngoài trong tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam và giới thiệu, quảng bá các doanh nghiệp xuất khẩu

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ triển khai thực hiện một số hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu uy tín năm 2013 theo quy định tại Quyết định số 7013/QĐ-BCT ngày 07 tháng 10 năm 2013. Bộ Công Thương hy vọng các doanh nghiệp xuất khẩu uy tín Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực, phát huy thành tích trong thời gian tới để khẳng định vị trí của mình trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam và thế giới.

Danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu uy tín mặt hàng Hồ tiêu năm 2014:

1. Công ty Cổ phần Phúc Sinh
2. Công ty Cổ phần Sản xuất Dịch vụ Xuất nhập khẩu Hà Nội
3. Công ty Cổ Phần XNK Petrolimex
4. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I
5. Công ty Cổ phần Cà Phê Petec
6. Công ty Cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận
7. Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex
8. Công ty Cổ phần TM Dịch Vụ XNK Trân Châu
9. Công ty TNHH Ottogi Việt Nam
10. Công ty TNHH Gia vị Liên Hiệp
11. Công ty TNHH Hương Gia Vị Sơn Hà
12. Công ty TNHH KSS Việt Nam
13. Công ty TNHH Một thành viên Thương mại Xuất nhập khẩu Phúc Lợi
14. Công ty TNHH Một TV Xuất nhập khẩu 2-9 Đăklăk
15. Công ty TNHH Sản Xuất Thương Mại Trà và Cà phê Đông Dương
16. Công ty Cổ phần Intimex Bình Dương
17. Công ty TNHH Thương mại Xuất nhập khẩu Nhật Quang
18. Chi nhánh Tổng Công ty Thương mại Hà Nội tại TP. Hồ Chí Minh
19. Tổng Công ty Thương mại Hà Nội
20. Công ty Cổ Phần ĐTK
21. Công ty Cổ phần Hanfimex Việt Nam

Ngoài ra, tại các mặt hàng khác, các doanh nghiệp thuộc VPA cũng được xét chọn doanh nghiệp xuất khẩu tuy tín, bao gồm:

* Cà phê nhân:
1. Công ty Cổ Phần ĐTK
2. Công ty Cổ phần Cà phê PETEC
3. Công ty Cổ phần Dịch vụ Phú Nhuận
4. Công ty Cổ phần Intimex Bình Dương
5. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Cà phê Intimex Nha Trang
6. Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Sản xuất Gia Công và Bao bì
7. Công ty CP Phúc Sinh
8. Công ty CP Tập đoàn Intimex
9. Công ty TNHH Một Thành viên Xuất nhập khẩu 2-9 Đăklăk
10. Công ty TNHH Vĩnh Hiệp
11. Tổng Công ty Cà Phê Việt Nam - Công ty TNHH MTV
12. Tổng Công ty Tín Nghĩa

* Cao su:
1. Công ty Cổ Phần Xuất nhập khẩu Petrolimex
2. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tổng hợp I

* Gạo:
1. Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu và Hợp tác Đầu tư VILEXIM
2. Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex

* Hạt điều:
1. Công ty Cổ phần SX DV Xuất nhập khẩu Hà Nội
2. Công ty CP Hanfimex Việt Nam
3. Công ty Cổ phần Tập đoàn Intimex

* Rau quả:
1. Công ty CP Thương mại dịch vụ XNk Trân Châu
2. Công ty CP Xuất nhập khẩu Cà phê Intimex Nha Trang
3. Công ty TNHH Một Thành viên Thực phẩm và Đầu tư FOCOCEV
4. Công ty Cổ phần Hanfimex Việt Nam
5. Công ty TNHH Hương gia vị Sơn Hà

3/7/15

Năm 2014 Việt Nam xuất khẩu hồ tiêu đạt kim ngạch 1,2 tỉ USD. Tuy nhiên, do lợi nhuận từ việc trồng tiêu mang lại cao nên nông dân ở các địa phương tự phát mở rộng diện tích ồ ạt, trong khi kỹ năng trồng và chăm sóc không đúng quy trình dẫn đến cây tiêu bị sâu bệnh, năng suất, giá bán thấp...

Xuất khẩu hồ tiêu đứng đầu thế giới


Đến nay, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu hồ tiêu nhiều nhất, hiện chiếm 57% lượng hồ tiêu giao dịch thị trường thế giới. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), năm 2014 hồ tiêu lần đầu lọt vào nhóm các mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỉ USD với kim ngạch 1,2 tỉ USD. Hồ tiêu Việt Nam đã xuất khẩu đi 97 quốc gia và vùng lãnh thổ nên không bị phụ thuộc thị trường, ngay với Trung Quốc (chiếm 20% thị phần). Thị phần nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam châu Âu hiện chiếm 34%, châu Á 36%, châu Mỹ 20% và châu Phi là 10%.

Từ năm 2007 đến nay, giá hồ tiêu nông dân bán luôn ở mức cao và theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước, hiện nay ở mức cao kỷ lục 200.000 đồng/kg. Năm 2014, sản lượng hồ tiêu cả nước đạt 152.000 tấn, trong đó các tỉnh khu vực Tây Nguyên và Đông Nam bộ chiếm 95% sản lượng tiêu của cả nước.

4 tháng đầu năm 2015, các doanh nghiệp xuất khẩu 57.000 tấn, thấp hơn 23% so với cùng kỳ, nhưng giá trị lại tăng 21%, với kim ngạch đạt 521 triệu USD. Giá hồ tiêu đen xuất khẩu bình quân đạt trên 8.700USD/tấn, tăng hơn 2.200USD/tấn (34,7%), tiêu trắng đạt 12.500USD/tấn cũng tăng 34,7% so cùng kỳ năm 2014. Đây cũng là mức giá kỷ lục từ trước đến nay với hồ tiêu Việt Nam.

Năng suất hồ tiêu Việt Nam đã đạt bình quân 2,3-2,5 tấn/ha, số diện tích đạt năng suất 8-10 tấn/ha tăng hàng năm và được xem là ngành hàng có hiệu quả cao nhất trong số 5 loại cây công nghiệp lâu năm của Việt Nam.

Với việc có thể giữ trong kho 2 năm vẫn không ảnh hưởng đến chất lượng, người trồng tiêu Việt Nam đã chủ động trữ hàng, buộc người mua muốn có hàng phải tăng giá và khi giá lên thì không hạ nên lợi nhuận phần lớn vào túi người trồng còn doanh nghiệp xuất khẩu chủ yếu hưởng phí dịch vụ xuất khẩu (công mua hàng, đóng gói, nâng chất lượng…). Điều này lý giải vì sao, đầu năm nay, khi vào vụ thu hoạch giá hồ tiêu thường giảm, nhưng thực tế chỉ thời gian tết giá có hơi sụt, còn từ tháng 3 đến nay luôn ở mức 200.000 đồng/kg.

Các doanh nghiệp trong ngành đã tập trung đẩy mạnh chế biến sâu, giảm dần xuất khẩu thô, đa dạng hoá sản phẩm theo nhu cầu thị trường, cho giá trị gia tăng cao hơn như sản phẩm tiêu trắng, tiêu bột, tiêu đỏ phục vụ thị trường cao cấp. Hiện đã có 18 doanh nghiệp hồ tiêu đầu tư xây dựng nhà máy chế biến tiêu công nghệ hiện đại, công suất 60.000-70.000 MT/năm, trong đó có 14 nhà máy chế biến hồ tiêu đạt tiêu chuẩn châu Âu, Mỹ…

Dù vụ thu hoạch tiêu năm 2015 cơ bản hoàn tất nhưng chưa có con số chính thức về năng suất, sản lượng; lượng tiêu lớn chủ yếu đang nằm trong dân và các đại lý. Theo nhận định của VPA và Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế, sản lượng hồ tiêu Việt Nam 2015 ổn định dù thời tiết bất lợi và dịch bệnh khá nặng ở các vùng chuyên canh nhưng được bù lại từ nguồn hạt tiêu thu hoạch vụ đầu của diện tích trồng tự phát những năm 2010-2011.

Sản xuất tự phát vượt quy hoạch

Do thu nhập từ hồ tiêu hiện nay cao nhất trong tất cả các loại cây trồng nên nông dân tự ý mở rộng diện tích. Theo khảo sát của các chuyên gia, diện tích hồ tiêu trồng mới trong 2 năm 2013 và 2014 lên đến 10.000 ha/năm và chưa có dấu hiệu dừng lại. Tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã có thêm 1.882 ha trồng mới, Bình Phước có thêm 1.533 ha. Ước tính trong những tháng đầu năm 2015, diện tích hồ tiêu Việt Nam đã tăng gần gấp đôi so với quy hoạch, và vẫn còn tiếp tục tăng lên.

Đến nay, tổng diện tích hồ tiêu cả nước đạt gần 86.000ha, trong đó vùng Đông Nam bộ và Tây Nguyên hơn 78.000ha (chiếm 91,39%).

Theo chủ trương của VPA, đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì và ổn định ở mức 50.000ha, trong đó chủ lực tập trung ở khu vực Đông Nam bộ và Tây Nguyên chiếm đến 81% (41.500ha). Diện tích hồ tiêu cho sản phẩm 47.000ha, năng suất đạt bình quân 30 tạ/ha với tổng sản lượng đạt 140.000 tấn. Trong đó, sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90% với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt từ 1,2-1,3 tỷ USD.

Phát triển chưa bền vững

Do phát triển tự phát nên vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang rất nóng. Dù chưa có báo cáo chính thức nhưng thông tin về việc hồ tiêu Việt Nam bị phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại một số nước nhập khẩu đặt ra vấn đề cho ngành hồ tiêu trong thời gian tới. Ngoài ra, nhiều quy định về dư lượng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trên hồ tiêu của các nước nhập khẩu đã bắt đầu có hiệu lực. Từ năm 2014 và nhất là năm 2015, châu Âu đã siết chặt vấn đề VSATTP, kiểm tra gắt dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) nên lượng xuất năm 2014 và 4 tháng đầu năm 2015 sang thị trường này bị giảm, riêng thị trường Đức giảm trên 50%.

Giá tiêu Việt Nam hiện thấp hơn Malaysia, Indonesia từ 600 - 1.500 USD/tấn do chất lượng thấp.

Do lợi nhuận từ việc trồng tiêu mang lại cao nên nông dân ở các địa phương tự phát mở rộng diện tích ồ ạt, trong khi đó kỹ năng trồng và chăm sóc không đúng quy trình nên trong thời gian gần đây một số diện tích trồng tiêu bị sâu bệnh cho năng suất thấp, thậm chí ở một số nơi có nhiều diện tích bị mất trắng do bệnh gây hại.

Giá cao, lợi nhuận lớn không chỉ làm gia tăng diện tích vượt quá quy hoạch mà còn xuất hiện tâm lý chạy theo năng suất, dẫn đến việc khai thác tài nguyên (đất, nước…) thiếu khoa học, lạm dụng phân bón, khiến sâu bệnh có chiều hướng lan rộng, cây tiêu mất sức đề kháng, mau suy kiệt.

Theo điều tra của Viện KHKT nông nghiệp miền Nam, có 8 loại dịch bệnh trên hồ tiêu là bệnh thối rễ, xoăn lá, đốm lá đen, đốm lá trắng, đốm rong, rệp bông, nhưng nguy hiểm nhất là bệnh chết nhanh do nấm Phythopthora và bệnh chết chậm do nấm Fusarium, từng xóa sổ nhiều vùng tiêu ở các tỉnh trọng điểm Tây Nguyên, Đông Nam bộ… Nấm bệnh nhiều buộc bà con gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm.

Ngoài ra, đầu ra hiện quá thuận lợi nên nông dân không quan tâm đến việc kết nối tiêu thụ với doanh nghiệp. Theo Chủ tịch VPA Đỗ Hà Nam, chủ trương của Nhà nước luôn kêu gọi liên kết sản xuất lớn, gắn kết nông dân và doanh nghiệp nhưng riêng ngành hồ tiêu thì nông dân không thích doanh nghiệp đến tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật canh tác.

Thời gian tới, ngành hồ tiêu chủ trương không tăng diện tích mà tập trung củng cố, nâng cao chất lượng, giá trị và chú trọng vấn đề kiểm soát an toàn thực phẩm trong toàn chuỗi. Đồng thời, chú trọng trồng tiêu hữu cơ với giá bán gấp 2,6 lần như Malaysia để đa dạng thêm phân khúc thị trường. Bên cạnh đó, đầu tư thêm nhiều cơ sở chế biến sâu, đa dạng sản phẩm bằng công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao sức mạnh, đáp ứng nhiều thị trường sử dụng gia vị không sử dụng hoá chất…

Trần Hưng
Nguồn: Hội Nông Dân VN
Năm 2015, sản lượng hồ tiêu ước đạt khoảng 126.000 tấn, giá trị xuất khẩu (XK) khoảng 1,1 tỷ USD. Tuy nhiên, hiện tại, tiêu chưa xay của Việt Nam chiếm đến 83% các mặt hàng hồ tiêu, cho nên giá trị đem lại chưa cao.

95% sản lượng để XK


Việt Nam được coi là quốc gia sản xuất và XK hồ tiêu hàng đầu thế giới cả về quy mô, chất lượng và nhiều tiềm năng trong tương lai. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT): năm 2015, diện tích hồ tiêu của cả nước khoảng 70.000 ha. Khu vực có thế mạnh về trồng tiêu là các tỉnh Đông Nam bộ (chiếm hơn 50% diện tích), Tây Nguyên (chiếm 31% diện tích) và tiếp đến là các tỉnh miền Trung. Năng suất hồ tiêu bình quân đạt 2,16 tấn tiêu khô/ha, được xếp vào loại cao nhất thế giới.

Báo cáo mới đây của Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam (VIRI)- cho thấy: 95% sản lượng sản xuất hồ tiêu của Việt Nam được dùng để XK. Đặc biệt, hồ tiêu Việt Nam chiếm 40% sản lượng và hơn 50% thị phần XK hồ tiêu trên thế giới với hơn 120.000 tấn hạt tiêu. Kim ngạch XK tiêu của Việt Nam trong năm 2014 đạt mức kỷ lục là 1 tỷ USD.

Theo thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, trong 5 tháng của năm 2015, hồ tiêu Việt Nam đã XK 72.000 tấn, đạt kim ngạch 657 triệu USD. Như vậy trong 7 tháng tiếp theo ngành chỉ cần XK 40.000 tấn là đã đạt 120.000 tấn với kim ngạch trên 1 tỷ USD, hoàn thành mục tiêu XK cả năm.

Hiện cả nước có hơn 200 doanh nghiệp (DN) tham gia XK trực tiếp mặt hàng hồ tiêu, trong đó khoảng 30% là DN FDI. Các thị trường XK chính hiện nay của Việt Nam là Mỹ, Đức, Ả rập Xê út, Hà Lan, Singapore, Ấn Độ, Ai Cập, Tây Ban Nha, Pakistan. “Trung bình hàng năm, thị phần XK tiêu Việt Nam vào châu Á là 36%, châu Âu chiếm 34%, châu Mỹ 20%, châu Phi 10%”- đại diện Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam cho biết.

Tập trung chú trọng chế biến

XK hồ tiêu của Việt Nam bao gồm chủ yếu hai thành phần là hồ tiêu đen và hồ tiêu trắng chưa xay. Các sản phẩm hồ tiêu Việt Nam đang được sản xuất và XK chủ yếu là các hạt tiêu thuộc chi Piper đen và trắng (mã số hàng hóa 0904), khô chưa xay (mã 090411) hoặc đã nghiền (mã 090412). Theo thống kê của Trademap (một hệ thống cơ sở dữ liệu cập nhật về tình hình thương mại của Trung tâm Thương mại Quốc tế), kim ngạch XK hồ tiêu chưa xay của Việt Nam tăng 23%/năm, tiêu chưa xay của Việt Nam chiếm 83%, còn tiêu đã xay của Việt Nam chiếm 17% tổng kim ngạch XK của mặt hàng hồ tiêu.

Do đó, Bộ NN&PTNT đang có chủ trương đầu tư cải tạo nâng cấp các nhà máy chế biến hồ tiêu hiện tại, trong đó có 14 nhà máy chế biến tiên tiến chất lượng cao, đồng thời mở rộng công suất và đầu tư mới các nhà máy chế biến tiêu trắng, nâng tỷ lệ sản phẩm tiêu trắng lên 30% vào năm 2020, tỷ lệ tiêu nghiền bột lên 25% năm 2020.

Các DN trong ngành hồ tiêu cũng cho rằng, hồ tiêu Việt Nam thường bị ép giá, mức giá XK thấp so với các nước khác do chất lượng hồ tiêu chưa đều bởi công nghệ chế biến lạc hậu. Vì vậy, trước nhu cầu các sản phẩm hồ tiêu trắng, tiêu xay trên thế giới ngày càng cao, đây chính là cơ hội để ngành đa dạng hóa sản phẩm, tăng cường chế biến để gia tăng giá trị sản phẩm. Để làm được điều này, phải có vốn đầu tư rất lớn, nên rất cần nhà nước hỗ trợ.

Ấn Độ là nước có kim ngạch nhập khẩu hồ tiêu Việt Nam lớn nhất. Năm 2014, nhập khẩu hạt tiêu Việt Nam của Ấn Độ tăng mạnh, đạt khoảng 8.000 tấn, chiếm trên 90% tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu vào nước này.
Quỳnh Nga - Lan Anh
Theo Báo Công Thương
Việc chất lượng hồ tiêu xuất khẩu Việt Nam bị ảnh hưởng do việc mở rộng quá nhanh diện tích đã được Hiệp hội hồ tiêu (VPA) cảnh báo nhiều năm qua.

Tình trạng này đang đến mức báo động khi số lô hàng hồ tiêu xuất khẩu bị từ chối, trả về đang có xu hướng tăng lên. Theo VPA nếu không có giải pháp ngăn chặn, đây sẽ là thảm họa với ngành hồ tiêu.


Theo FBNC
    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com