Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

12/11/15

Phân vi lượng BO
BO là nguyên tố vi lượng rất cần thiết đối với cây, nếu thiếu BO nghiêm trọng thì cây có biểu hiện đỉnh sinh trưởng của thân, rễ bị khô. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu BO đã làm giảm khả năng phân chia tế bào các mô phân sinh, từ đó phá vỡ sự sắp xếp bình thường của tế bào cấu tạo mạch dẫn, làm đình trệ sự vận chuyển nước và muối khoáng đến các đỉnh sinh trưởng.

BO ảnh hưởng đến sự hình thành este phosphoric của glucose và sự tổng hợp protein. Thiếu BO thì lượng acid nucleic bị giảm, ATP (hợp chất cao năng ) trong tế bào cũng giảm mạnh. BO làm tăng hoạt động của enzyme decarbonxylase, đảm bảo sự vận chuyển oxi cho rễ, tác động đến giai đoạn khử của quá trình hô hấp.

BO làm tăng khả năng chống đổ cho cây vì tăng sự tổng hợp protein (tránh độc NH3) và sự tổng hợp glucid (tiếp nhận NH3 dư trong tế bào). Ngoài ra BO còn có lợi cho sự ra hoa và tạo quả, làm tăng sự vận chuyển các chất giúp cây sinh trưởng tốt tăng tính chịu hạn.

Thiếu BO dẫn đến sự rối loạn trong hình thành cơ quan sinh sản, một số trường hợp không tạo túi phấn và nhụy , hạt phấn không bình thường thiếu sức sống tạo bông bất thụ

Triệu chứng thiếu BO ở cây trồng:

- BO là nguyên tố ít di động nên triệu chứng thiếu BO thường xuất hiện ở các bộ phận non của cây. Ban đầu đỉnh sinh trưởng chùn lại, dần dần chết khô. Các lá non thường bị biến dạng, gấp nếp và mỏng với màu xanh nhạt đến mất màu. Trên bề mặt lá thường có những đốm nhỏ màu vàng trắng. Đôi khi đỉnh sinh trưởng bị chết làm cây mọc nhiều chồi bên giống như cây bụi.

- Lá già có kết cấu dày, đôi khi cong lên và dòn.

- Hoa ít hoặc không hình thành, rễ còi cọc.

- Hoa-trái dễ bị thối và rụng non.

- Bệnh “Ruột nâu” xuất hiện ở cây có củ đặc trưng bởi những đốm thẩm màu.

- Các loại quả như táo có triệu chứng xốp bên trong và bên ngoài.

Cụ thể một vài triệu chứng thiếu BO trên cây trồng như:

- Cam thiếu BO: Trên lá xuất hiện những đốm vàng rải rác. Trên vỏ trái xuất hiện những đốm nâu, lõi to, lệch tâm, có quầng thâm đen quanh lõi.

- Bông vải thiếu BO: Trái bị thối đen không nở được, đài hoa rụng sớm.

- Súp-lơ thiếu BO: Lõi bị thâm đen, bông và cuống bông bị thối, lá rụng nhiều.

- Cà phê thiếu BO: Cành trơ trọi, chồi non chết khô.

- Bắp (ngô) thiếu BO: Trái bắp nhỏ có hình đuôi chuột, hạt ít.

- Đu đủ thiếu BO: Trái biến dạng, xù xì.

10/11/15

Đoàn khách nước ngoài tham quan vườn hồ tiêu ở BR-VT
Ngày 7/11/2015, Đoàn chuyên gia và nông dân Ấn Độ do tiến sĩ Sunil Tamgale Chủ tịch Trung tâm Khoa học Nông nghiệp, thuộc Viện Tư vấn Nông nghiệp Quốc tế Ấn Độ làm trưởng đoàn đã đi thăm vùng Hồ tiêu Bà Rịa – Vũng Tàu, một trong những tỉnh trọng điểm trồng hồ tiêu của Việt Nam.

Được sự hỗ trợ của Hiệp hội Hồ tiêu VN và Hội Hồ tiêu BR-VT, chính quyền địa phương, Đoàn đã thăm vườn hồ tiêu của 3 nông dân trồng hồ tiêu ở Ấp Tân Thành, xã Quảng Thành và ấp Kim Bình, xã Bình Giã huyện Châu Đức tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Được biết hồ tiêu tại Ấn Độ được trồng xen canh với rất nhiều loại cây công nghiệp khác nên khi được thăm các mô hình trồng hồ tiêu chuyên canh của Việt Nam, đoàn đã rất thích thú với cách canh tác hồ tiêu của Việt Nam cũng như khá tâm đắc với sản lượng, năng suất và thu nhập của các hộ nông dân trồng tiêu BR-VT. Tại buổi tiếp xúc đoàn Ấn Độ cũng đã học hỏi và chia sẻ với nông dân VN về  nhiều vấn đề liên quan tới cách quản lý dịch bệnh, các biện pháp canh tác, thu hoạch, phân bón, nhân giống, tưới và thoát nước v.v. để sao cho vườn tiêu được sinh trưởng ổn định, cho sản lượng lâu dài.

Sau khi kết thúc chuyến khảo sát, tiến sĩ Sunil – trưởng đoàn đã cho biết ông và các thành viên trong đoàn gồm các nhà khoa học cũng như nông dân Ấn Độ rất ấn tượng với sự cần cù, năng động cũng như kiến thức rất tốt về canh tác hồ tiêu của nông dân hồ tiêu Việt Nam cũng như sự hỗ trợ kịp thời về chính sách của nhà nước đối với ngành hồ tiêu, chuyến đi khảo sát là một trải nghiệm rất đáng giá đối với đoàn. Ông cũng chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam, Hội Hồ tiêu BR-VT và sự hiếu khách của nông dân Việt Nam đối với đoàn trong toàn bộ chuyến khảo sát và hy vọng sẽ áp dụng những kinh nghiệm được chia sẻ  của nông dân Việt Nam  để nông dân  Ấn Độ cũng có thể tìm kiếm được thu nhập tốt như nông dân VN.

Theo VPA

5/11/15

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh vừa chủ trì hội nghị công tác bảo vệ thực vật các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và chỉ đạo phòng chống bệnh hại hồ tiêu.
Cây hồ tiêu đang đối mặt với các loại dịch bệnh
Những năm qua, cùng với việc mở rộng diện tích và đầu tư thâm canh, tăng năng suất, dịch hại trên hồ tiêu ngày càng trở nên nghiêm trọng. Theo thống kê, hiện nay diện tích hồ tiêu của 12 tỉnh ở miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam bộ là 89.640 ha, trong đó Tây Nguyên chiếm 54%, Đông Nam bộ 41% và miền Trung 5%.

Đăk Lăk có khoảng 15.473 ha hồ tiêu, trong đó bệnh vàng lá chết chậm là 915,4 ha, bệnh vàng lá chết nhanh 703,58 ha chủ yếu ở các huyện Ea Kar, Krông Năng, Ea H’leo, Cư Kuin, Buôn Đôn…

Tại Gia Lai, tình trạng hồ tiêu bị chết nhanh, chết chậm cũng khá phổ biến với 380.827 trụ tiêu bị bệnh chết nhanh, 9.215,6 ha bị bệnh chết chậm ở Chư Prong, Đức Cơ, Ia Grai, Chư Sê…

Nguyên nhân tình trạng hồ tiêu mắc bệnh chết nhanh, chết chậm, các đại biểu cho rằng bệnh xuất hiện và gây hại từ tháng 6,7 đến tháng 8,9 thì phát sinh mạnh. Bệnh bộc phát làm cây tiêu vàng rụng lá và chết hàng loạt trong thời gian ngắn vào thời điểm chuyển tiếp mùa mưa sang mùa khô…

Bệnh gây hại nặng trên vùng đất thoát nước kém, đất dí chặt, thiết kế bồn không thoát nước trong mùa mưa, các vườn tiêu chăm sóc kém không đảm bảo quy trình kỹ thuật, lạm dụng việc bón phân hóa học…

Trước thực trạng trên, Bộ NN-PTNT và các địa phương đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nông dân thực hiện các giải pháp như vệ sinh vườn tiêu, hoàn thiện hệ thống thoát nước, chăm sóc đúng kỹ thuật, sử dụng chế phẩm sinh học đầu mùa mưa nhằm phát triển vườn chưa bị bệnh, phục hồi vườn bị bệnh chết nhanh, chết chậm…

So với năm 2014, tổng diện tích hồ tiêu bị nhiễm bệnh chết nhanh, chết chậm trong năm 2015 giảm 394 ha; diện tích nhiễm bệnh chết nhanh, chết chậm nặng tăng 864 ha, song diện tích mất trắng giảm 482 ha.

Ngoài ra, Chi cục BVTV các tỉnh trong khu vực đã tổ chức tập huấn về phòng chống bệnh hại hồ tiêu cho 1.294 nông dân và cán bộ dự án; tổ chức tuyên truyền về công tác phòng chống bệnh hại trên cây hồ tiêu…

Phát biểu kết luận hội nghị, Thứ trưởng Lê Quốc Doanh nhấn mạnh, hồ tiêu là cây công nghiệp xuất khẩu chủ lực của nước ta, góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho bà con nông dân. Do vậy các địa phương phải chỉ đạo tốt công tác phòng chống bệnh hại hồ tiêu.

VĂN THANH
Theo NNVN
Hình minh họa, nguồn: internet
Ngày 4-11, tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, Bộ NN-PTNT đã tổ chức hội nghị công tác bảo vệ thực vật miền Trung - Tây Nguyên và chỉ đạo phòng chống bệnh hại hồ tiêu.

Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật (thuộc Bộ NN-PTNT), từ đầu năm đến nay đã có 9.687ha hồ tiêu ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam bộ bị nhiễm bệnh chết nhanh, chết chậm. Trong đó, có 73ha hồ tiêu bị mất trắng, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông. So với cùng kỳ, tổng diện tích hồ tiêu khu vực này nhiễm bệnh giảm 394ha và diện tích hồ tiêu mất trắng giảm 482ha. Tính đến nay, khu vực này có 89.640ha hồ tiêu (tăng hơn 7.000ha so với năm 2014) và Tây Nguyên chiếm 54% tổng diện tích.

CÔNG HOAN
Theo SGGP

3/11/15

Sau 3 năm triển khai, dự án đã xây dựng thành công các mô hình phục hồi và trồng mới hồ tiêu sạch bệnh, năng suất cao, tạo vùng lõi kỹ thuật để nhân rộng mô hình ra toàn huyện Cam Lộ (Quảng Trị) và các địa phương khác.
Vườn tiêu do tổ chức ROP hỗ trợ kỹ thuật đang phát triển tốt
Theo đó, tổ chức ROP đã hỗ trợ kỹ thuật, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xây dựng mô hình trồng tiêu mới với quy mô 500 m2/hộ cho bà con nông dân.

Để thực hiện mô hình này, ROP phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương tổ chức thành lập 10 câu lạc bộ (CLB) trồng tiêu tại các xã nằm trong vùng dự án là Cam Thành, Cam Nghĩa, Cam Chính gồm 260 hộ tham gia.

Với quan điểm hợp tác nhân dân đóng góp 50%, dự án tài trợ 50%, sau khi thành lập các CLB trồng tiêu, tổ chức ROP tổ chức 6 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho 89 lượt người tham gia là cán bộ tổ kỹ thuật huyện, khuyến nông xã, chủ nhiệm các CLB; tổ chức 16 lớp tập huấn trực tiếp cho 1.059 lượt nông dân về các kỹ thuật chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây hồ tiêu.

Hàng tháng, cán bộ khuyến nông, chủ nhiệm CLB tổ chức giám sát, quản lý, thăm vườn, tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho các thành viên CLB.

Bên cạnh đó, tổ chức ROP phối hợp với Công ty Hợp Trí, Công ty Syngenta tổ chức hội thảo giới thiệu các sản phẩm hỗ trợ sản xuất tiêu, tập huấn kỹ thuật sử dụng hiệu quả, an toàn thuốc bảo vệ thực vật cho nông dân.

Ngoài ra, ROP còn phối hợp với tổ chức MAG rà phá bom mìn cho 87 hộ thuộc 3 xã dự án với diện tích rà phá trên 51.000 m2 để cải tạo vườn tạp, trồng tiêu đảm bảo an toàn.

Đến nay, tổ chức ROP đã hỗ trợ trồng mới 14 ha hồ tiêu, chăm sóc vườn tiêu 261 ha.

Kết quả các mô hình trồng mới đều sinh trưởng, phát triển tốt, tạo nguồn giống chất lượng cung cấp cho những năm sau.

Kết quả cho thấy mô hình phục hồi vườn tiêu theo quy trình kỹ thuật mới cho năng suất cao hơn tập quán của bà con nông dân 4-6 tạ/ha, đưa năng suất hồ tiêu bình quân toàn huyện từ 8 tạ lên 12,5 tạ/ ha, điển hình có vườn tiêu đạt 30 tạ/ha, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, thu nhập và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.

Tổng kinh phí tổ chức ROP tài trợ xây dựng các mô hình trồng mới và phục hồi vườn tiêu trên địa bàn huyện Cam Lộ là 1 tỷ đồng.

Đây chính là vùng lõi kỹ thuật để nhân dân học tập, nhân rộng trồng mới 84 ha hồ tiêu và phục hồi vườn tiêu sạch bệnh 110 ha, nâng diện tích hồ tiêu toàn huyện lên 336 ha, đáp ứng chủ trương biến đặc sản “vàng đen” trở thành thế mạnh làm giàu cho người dân trong vùng dự án.

Ông Phạm Viết Thanh, Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Cam Lộ nhận xét: “Thành công của dự án phát triển nông nghiệp bền vững do tổ chức ROP tài trợ đã góp phần thay đổi tư duy của người dân từ trông chờ hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức sang hợp tác cùng phát triển"

Đồng thời đào tạo được mạng lưới kỹ thuật từ huyện đến thôn (CLB) về kiến thức khoa học kỹ thuật mới chuyên sâu để phát triển cây hồ tiêu trên địa bàn, giúp vườn tiêu phát triển ổn định, an toàn dịch bệnh, nâng cao năng suất và thu nhập cho người sản xuất.

Hy vọng với sự vào cuộc của “4 nhà” (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) trong chuỗi liên kết giá trị sản xuất nông nghiệp hàng hóa, cây hồ tiêu trên địa bàn huyện Cam Lộ sẽ phát triển bền vững, hiệu quả hơn”.

Tiếp tục triển khai dự án hỗ trợ phát triển nông nghiệp, tổ chức ROP đang thay đổi cách tiếp cận hợp tác từ hỗ trợ đầu tư theo quy mô hộ sang quy mô hợp tác vùng dự án và giải quyết đầu ra cho sản phẩm hồ tiêu.

Bước đầu, tổ chức ROP đang thu mua cho nông dân vùng dự án sản phẩm tiêu đỏ (tiêu chín trên cây qua chế biến có màu đỏ) với giá cao gấp 2,5 lần tiêu đen truyền thống để đưa đi chào hàng tại Mỹ; đồng thời hướng dẫn phân loại tiêu đen để bán ra thị trường nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người trồng tiêu, phần lợi nhuận thu được sẽ tái đầu tư cho nông dân.

Đây là hướng đi hiệu quả để đưa thương hiệu hồ tiêu Cam Lộ đi xa đến các thị trường khó tính trên thế giới, giúp cây hồ tiêu và người trồng tiêu nâng cao giá trị kinh tế, hướng đến xây dựng và phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Theo Báo Quảng Trị
Giá hồ tiêu liên tục tăng và giữ ở mức cao trong hơn 2 năm qua đưa cây tiêu lên vị trí “đầu bảng” trong ưu tiên phát triển của người nông dân. Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh diện tích cây hồ tiêu cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về dịch bệnh và nguy cơ mất giá của sản phẩm này.

“Không cây gì hơn cây tiêu”

Gia đình ông Hà Cảnh Phán, ấp Thọ Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc đã quyết định chặt bỏ vườn chôm chôm để chuyển sang trồng tiêu
Sau nhiều năm gắn bó với cây chôm chôm, tháng 7 vừa qua, ông Hà Cảnh Phán, (ngụ ấp Thọ Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc) quyết định chặt bỏ hơn vườn chôm chôm của gia đình để chuyển sang trồng tiêu. Theo ông Phán, thu nhập từ chôm chôm cũng khá ổn định, tuy nhiên ở thời điểm này, nếu nói về hiệu quả kinh tế thì khó có cây trồng nào sánh được với cây tiêu.

Cách đó không xa, gia đình ông Nguyễn Chánh cũng đang bận rộn với gần chục người nhà đào hố để trồng cây nọc phục vụ cho việc trồng mới cây tiêu. Hiện tại, gia đình ông Chánh đã có gần 2 ha tiêu cho thu hoạch ổn định. Thời gian gần đây, do giá tiêu luôn ở mức cao nên gia đình ông quyết định trồng mới thêm tiêu trên diện tích đất vườn còn dư.

Không những vậy, trên điện tích tiêu đã cho thu hoạch ổn định, ông Chánh cũng tận dụng đào thêm hố trồng nọc tiêu để tận dụng diện tích trống. “Từ năm 2012 đến nay, giá tiêu liên tục tăng, hiện giá tiêu khoảng 200.000 đồng/kg, với mức giá này thì xét về thu nhập thì cây tiêu cho giá trị cao nhất nên gia đình quyết định tận dụng toàn bộ diện tích để trồng mới” , ông Chánh chia sẻ.

Các địa phương trọng điểm có thế mạnh về cây tiêu của tỉnh Đồng Nai như huyện Xuân Lộc, Cẩm Mỹ thời gian qua diện tích hồ tiêu liên tục tăng nhanh do người dân đổ xô trồng.

Gia đình ông Nguyễn Chánh, ấp Thọ Lộc, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc tận dụng lối đi giữ vườn tiêu đã cho thu hoạch để trồng thêm tiêu mới
Tại huyện Xuân Lộc, theo thống kê của Phòng Nông nghiệp huyện, chỉ trong 9 tháng đầu năm nay, diện tích hồ tiêu trên địa bàn huyện đã tăng hơn 300 ha đưa diện tích hồ tiêu của toàn huyện thời điểm hiện tại đạt hơn 2.800 ha.

“Theo quy hoạch phát triển cây hồ tiêu của huyện, đến năm 2020, Xuân Lộc sẽ phát triển khoảng 3.200 ha diện tích hồ tiêu, tuy nhiên do thời gian qua giá hồ tiêu liên tục tăng nên người dân tăng nhanh diện tích hồ tiêu. Hiện diện tích tiêu trồng mới của huyện đã đạt hơn 87% diện tích theo quy hoạch đến năm 2020”, bà Nguyễn Thị Hiệp, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Xuân Lộc cho biết.

Trong khi đó, tại huyện Cẩm Mỹ, chỉ trong 2 năm từ 2013 đến nay, diện tích hồ tiêu của huyện cũng đã tăng hơn 800 ha, đạt con số hơn 4.500 ha hồ tiêu.

“Đánh cược” với cây tiêu

Hiện giá thu mua tiêu khô trên địa bàn tỉnh Đồng Nai khoảng 200.000 đồng/kg, như vậy, với năng suất trung bình 1ha tiêu hiện cho thu khoảng 6 tấn tiêu khô. Mỗi vụ thu hoạch tiêu người nông dân có thu nhập khoảng 1,2 tỷ đồng/ha, trừ đi các chi phí, lợi nhuận mang lại từ cây hồ tiêu đạt khoảng 1 tỷ đồng/ha.

Cây hồ tiêu đã làm thay đổi cuộc sống của người dân, nhiều hộ từ đói nghèo đã vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, với sự phát triển ồ ạt cây hồ tiêu như hiện nay cũng làm gây ra không ít lo ngại về sự phát triển thiếu bền vững của cây hồ tiêu. Đặc biệt, cây hồ tiêu là cây trồng đòi hỏi sự đầu tư lớn và đòi hỏi chế độ trồng và chăm sóc.

Cây hồ tiêu là cây trồng đòi hỏi sự đầu tư lớn và đòi hỏi chế độ trồng và chăm sóc
Ngoài ra, thời gian cho thu hoạch cũng khá dài, mất khoảng 3 năm trồng thì cây hồ tiêu mới cho thu hoạch. Hiện theo tính toán của người dân, mỗi ha tiêu trồng mới chỉ riêng cho phí mua cây nọc, giống cũng đã mất gần 30 triệu đồng, cộng với đó là chi phí về nhân công, phân bón. Ngoài ra, mỗi năm chi phí chăm sóc cho 1 ha tiêu cũng mất gần 100 triệu đồng. Trong khi đó, có một thực tế là hiện nay, nguồn cung cấp giống chủ yếu là do người dân tự cung, tự cấp hoặc mua lại của người quen thông qua kinh nghiệm của bản thân. Chính điều này khiến nguy cơ bùng phát dịch bệnh rất dễ xảy ra.

Bà Nguyễn Thị Hiệp, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Xuân Lộc cho biết, diện tích hồ tiêu tăng vừa qua trên địa bàn huyện vẫn tập trung ở các vũng quy hoạch phát triển hồ tiêu của huyện theo cơ cấu chuyển đổi cây trồng của huyện. Tuy nhiên, do diện tích tăng quá nhanh nên phòng nông nghiệp huyện cũng đã khuyến cáo bà con nông dân thận trọng khi mở rộng diện tích. Đặc biệt, chỉ thực hiện chuyển đổi trên những vùng đất phù hợp với cây tiêu và chú ý khâu lựa chọn giống đảm bảo chất lượng.

“Để cây tiêu phát triển bền vững huyện Xuân Lộc cũng khuyến khích nông dân áp dụng các quy trình sản xuất tiêu sạch và an toàn nhằm mục đích phát triển bền vững và nâng cao giá trị”, bà Hiệp chia sẻ.




Vĩnh Thủy
Theo dantri.com.vn

11/10/15

I. CÁC NGUYÊN TỐ ĐA LƯỢNG.

+ Chất Đạm (N= Nitrogen)

Cây trồng hấp thụ chất đạm ở dạng ion NH4+ và NO3- .

Đạm là nguyên tố đa lượng cực kỳ quan trọng với cây trồng vì đây là nguyên tố cấu tạo nên tế bào. Đạm là thành phần chính của protein và diệp lục tố (Nguyễn Ngọc Đệ, năm 2008.)  Chất đạm được cung cấp bởi các loại phân bón phổ biến hiện nay như URE có chứa 45-46% N, phân SA có chứa 20-21% N hoặc từ các loại phân hổn hợp NPK như 20-20-15, 16-16-8-13S…..

Trong điều kiện đất ngập nước ( trồng lúa), hệ số sử dụng chất đạm khoảng 40%.  Như vậy, khoảng 60% lượng đạm được bón vào đất đã bị mất đi do bốc hơi ( NH4+  -> NO3 - > N 2 +,  bị trực di xuống lòng đất và bị rữa trôi trong quá trình canh tác. ( Võ Tòng Xuân, Hà Triều Hiệp, năm 1998. )

Trường hợp bón phân đạm trong điều kiện không ngập nước như khi trồng Cao Su, Cà Phê, Hồ Tiêu, Cây Ăn Trái, Rau Màu…., hệ số sử dụng chất đạm còn thấp hơn nghĩa là sự thất thoát N còn cao hơn.

Để tăng hệ số sử dụng chất đạm, trong canh tác, cần chôn vùi đạm vào tầng khử thay vì chỉ rãi trên bề mặt.  Một số nước như Mỹ, Đức, Nhật…. người ta đã sản xuất ra các loại phân URE được bọc trong parafin,lưu huỳnh… nhằm hạn chế việc mất đạm và cung cấp đạm cho cây trồng hấp thụ từ từ.

+ Chất Lân (P = Phospho)

Cây trồng hấp thu chất Lân dưới dạng H2PO4- và HPO4 --.

Lân là nguyên tố đa lượng quan trọng thứ hai sau chất đạm. Trong một số trường hợp, vai trò của chất lân quan trọng hơn chất đạm vì lân trở thành yếu tố giới hạn năng suất như trường hợp canh tác trên đất phèn.

Lân là nguyên tố cấu tạo nên tế bào. Tác dụng của chất lân đến sự hình thành sinh khối thể hiện ở nhiều mặt :

+  Làm tăng sự phát triển của rễ nhất là cây trồng ở giai đoạn đầu, cây còn nhỏ.

+  Cần cho sự hình thành tế bào mới, tạo lá, tạo chồi, sự phân hóa hoa và tạo trái, tạo hạt vì lân là thành phần cấu tạo nên acid nucleic.

+  Là thành phần của chất sinh năng cực kỳ quan trọng là ATP ( Adenosin Triphosphate)

Hiện nay, trên thị trường, chất lân được cung cấp từ các loại phân bón phổ biến như Super Lân  Ca (H2PO4)2 có chứa trung bình 12-15% P2O5(Oxid Lân), Phân Lân nung chảy ( Thermo Phosphate) có 10-12% P2O5, DAP ( Diamonium Phosphate) (NH4)2HPO4 có 45-46% P2O5,  MAP (Mono Amonium Phosphate) NH4H2PO4 có chứa 60-61% P2O5, MKP (Mono Potasium Phosphate) KH2PO4 có 52% P2O5,  các loại phân NPK như 23-23-0, 20-20-15,  16-16-8-13S…..

Trong canh tác, nhất là trên đất phèn có nhiều ion Fe, Al di động, chỉ số pH thấp hoặc trên đất kiềm có chứa nhiều cation Ca, Mg  việc bón phân lân vấp phải một trở ngại cực lớn là hệ số sử dụng chất lân rất thấp, chỉ khoảng từ 23-30% ( Võ Minh Kha,1996.). Trong những trường hợp nầy, khi bón phân lân vào đất, ion phospho dể tiêu hòa tan trong dung dịch đất để rễ cây trồng hấp thụ đã bị Fe, Al hoặc Ca, Mg biến thành hợp chất trơ phosphate Fe, Phosphate Al hoặc Phosphate Ca, Phosphate Mg . Từ chất lân dể tiêu hữu dụng cho cây trồng, khi bị cố định bởi Fe,Al hoặc Ca, Mg, chất lân hữu dụng nầy đã bị biến thành hợp chất lân bất dụng nằm tích lũy trong đất từ năm nầy qua năm khác trong suốt quá trình canh tác.

Trên đất phèn trồng lúa của vùng đồng bằng Sông Cửu Long, việc rất nhiều nông dân dùng phân lân cao cấp DAP để “trị” phèn là giải pháp canh tác rất thiếu sáng suốt vì đấy là một sự lãng phí cực lớn về mặt khoa học và cả về tiền của  trong đầu tư. Áp dụng các biện pháp tổng hợp trong canh tác lúa trên đất phèn như  sử dụng nước, giống lúa, cày xới, mương phèn, bón vôi, bón phân lân nung chảy….sẽ hiệu quả hơn.

Đất phèn là đất thiếu lân, nhưng đất thiếu lân chưa hẳn là đất phèn bởi vì ở nhiều vùng đất không có phèn, nhưng khi bón lân vào đất, lân dể tiêu đã bị nhiều chất có trong đất nhanh chóng cố định lại, biến chúng thành những hợp chất trơ, những hợp chất lân hữu cơ khó tiêu….cây không hấp thu được.

+ Chất Kali (K= Kali =Potassium )

Cây trồng hấp thụ kali dưới dạng cation K+.

Kali không phải là nguyên tố cấu tạo vì người ta không tìm thấy kali ở bất cứ thành phần hợp chất nào tạo nên thực vật (Võ Minh Kha, năm 1996.). Tuy nhiên, vai trò của Kali ngày càng được khẳng định vì các tính chất quan trọng rất đặc thù của nguyên tố này :

·       Kali tăng cường và điều hòa hiệu suất quang hợp để tạo ra carbohydrate và sản sinh ra ATP, một nguồn năng lượng cực trọng cho mọi phản ứng sinh hóa học bên trong của cây.

·       Kali giúp vận chuyển carbohydrate vào các cơ quan cần chuyển vận tới , giúp sự vận chuyển nước, vận chuyển các chất dinh dưỡng.

·       Kali kích hoạt trên 60 loại enzyme liên quan đến sự sinh trưởng,phát triển của cây trồng. Lượng kali vào được trong dịch bào sẽ quyết định rất nhiều đến tốc độ phản ứng xảy ra trong cây.

·       Kali kích hoạt sự đóng mở khí khổng để cây trao đổi CO2, O2, hơi nước…Khi thiếu kali,việc đóng khí khổng bị chậm, đình trệ,đưa đến việc hơi nước thoát nhiều, cây bị héo.

·       Dù không phải là nguyên tố cấu tạo tế bào, nhưng kali làm tăng sức bền của biểu bì, giúp cây chống đổ ngã.  Ngoài ra, Kali cùng với Calci, Silic…là những nguyên tố giúp chống lại bệnh gây hại cho cây trồng.

Hiện nay, kali được cung cấp từ các loại phân chuyên dùng cho bón rễ phổ biến như KCl, K2SO4, 20-20-15….hoặc các loại phân bón lá cung cấp chất kali như KNO3, KH2PO4…..

Trên thị trường, ít năm trở lại đây, một số nơi đã dùng loại phân chuyên cho bón rễ là K2SO4 để làm phân bón lá với các tên gọi khác nhau như Kali Tan, Siêu Kali….Cần hết sức thận trọng trong trường hợp sử dụng K2SO4 để phun xịt vì rất dể gây cháy lá, rụng bông, rụng trái.

Việc bón phân kali có rất nhiều ý kiến khác nhau giửa các “trường phái”, nhưng thực tiển sản xuất đã minh chứng, vai trò của Kali quyết định rất lớn đến năng suất và chất lượng nông sản nhất là sử dụng phân Kali ở giai đoạn ra hoa đậu trái.

Ruộng lúa ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long ,tùy loại đất có được ngập trong mùa lũ hay không, lượng kali ( K2O) có thể sử dụng để bón ở mức 30-45 kg/ha/vụ. Trong một số trường hợp ruông lúa quá tốt,thừa đạm, có thể sử dụng 50-60 kg K2O/ha.

Để hạn chế bớt sự lãng phí kali do bị các phiến sét kềm giử, phun kali dưới dạng phân bón lá sẽ mang lại hiệu quả rất cao nhất là ở giai đoạn lúa làm đòng, và sau trổ. Trên cà phê, hồ tiêu, các loại cây ăn trái, rau màu lấy quả,…. phun phân bón lá có chứa kali ở dạng dể hấp thụ, sẽ mang lại kết quả rất tốt.

II.CÁC NGUYÊN TỐ TRUNG LƯỢNG .

+ Chất Lưu Huỳnh (S= Sulphur)
Cây trồng hút S dưới dạng Sulphate SO4--.

Trên đất phèn,trên đất có chứa nhiều hữu cơ hoặc trên đất chứa nhiều sét ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long, lưu huỳnh có hàm lượng rất cao trong đất, nhưng anion SO4--  kết hợp với Fe, Al thành Fe2(SO4)3 hoặc thành Al2(SO4)3  hoặc bị keo đất giử chặt, nên cây không sử dụng được. Đây rỏ ràng là một điều nghịch lý, hàm lượng S trong đất cao nhưng cây bị thiếu, thậm chí trong điều kiện đất bị yếm khí, S ở dạng thể khí H2S  sẽ rất độc cho bộ rễ cây trồng như trong trường hợp lúa bị ngộ độc hữu cơ.

Ngược lại, trên vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ, vùng đất nhiều cát, vùng đất xám bạc màu ở Miền Đông và cả trên vùng đất đỏ basalt đã canh tác nhiều năm ở Miền Đông và Tây Nguyên, tình trạng thiếu S trong đất ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Vai trò chính của S trong sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng được biết đến :

·       S là thành phần cấu tạo tế bào : S tham gia vào thành phần của một số hợp chất hữu cơ, các Amino Acids, Vitamins, các Enzym nội sinh.

·       S có mặt trong các protein có chứa sắt, hình thành Chlorophyll nên ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quang hợp của cây.

·       Gốc –SH ở trong cấu trúc tế bào chất giúp cây trồng chống lại tình trạng mất nước khi trời nắng nóng,khô hạn.

Cây trồng khi thiếu S sẽ biểu hiện và đưa đến một số hậu quả xấu :

·       Lá vàng bị do mất diệp lục, đầu tiên xãy ra trên lá non ,dần lan toàn cây giống như trường hợp thiếu N.

·       Trên cây lúa, khi thiếu S, bộ rễ phát triển kém, đẻ nhánh yếu ớt, đốt thân ngắn và vách đốt mỏng, lúa thấp, bông ngắn ít hạt và tỉ lệ lép cao.

·       Trên cây cà phê, các loại cây ăn trái, tình trạng thiếu S cũng làm cho bộ rễ khó phát triển, khả năng ra tượt phát cành kém, đốt ngắn, lá vàng, tỉ lệ rụng hoa cao, trái phát triển rất kém.

Các loại cây họ đậu, họ cà, rau cải,trà, cà phê, cao su….là những cây rất cần S.

Sử dụng các loại phân bón có gốc Sulphate như  SA, Super Lân, K2SO4, NPK 16-16-8-13S….trên các loại cây trồng như Cao Su, Cà Phê, Hồ Tiêu…là giải pháp rất tốt để vừa cung cấp N,P,K vừa cung cấp nguyên tố S hết sức cần thiết cho các loại cây trồng nầy.

+ Chất Magie (Mg = Magnesium)

Cây trồng hấp thu magie dưới dạng ion Mg++.

Ma-nhê là nguyên tố rất dể bị rửa trôi nhất là ở những loại đất có nhiều cát, đồi dốc.

Trên đất phèn, ngoài lân, Canxi  thì ma nhê cũng là một chất bị thiếu nghiêm trọng. Trong trường hợp nầy, ion H+ đẩy Mg++ ra khỏi phức hệ keo đất làm cho đất càng thiếu Mg trầm trọng hơn.

Khi bón nhiều phân Đạm và phân Kali, các ion hóa trị 1 như NH4+, K+ sẽ thay thế Mg trong hệ hấp thụ của keo đất, đẩy Mg ra dung dịch đất và do đó, Mg càng dể bị rữa trôi. Do vậy,một vấn đề cần được chú ý hơn là khi bón nhiều kali, hãy chú ý tới việc cung cấp Mg cho đất và cho cây trồng.

Tỉ lệ Mg trao đổi / Mg tổng số là khoảng 6,3% nhưng trên đất nhiều cát, MgO tổng số chỉ khoảng 80ppm, trên đất nhiều thịt MgO tổng số khoảng 110ppm và trên đất có nhiều sét là khoảng 190ppm.

Cung cấp Mg cho cây trồng nên căn cứ vào nhu cầu cây và loại đất ( chua,phèn,mặn…) hơn là căn cứ vào tính chất vật lý của đất.

Về vai trò sinh lý của ma nhê trong đời sống thực vật, có những điểm rất quan trọng sau :

·       Mg là yếu tố cấu tạo tế bào thực vật : là thành phần tạo nên Chlorophyll, nên khi cung cấp đủ Mg, lá có màu xanh, cây quang hợp tốt.

·       Mg ảnh hưởng đến việc hình thành Protein, Glucid  và Lipid.

·       Mg ảnh hưởng đến quá trình hút và vận chuyển chất lân, khi cung cấp đầy đủ Mg, hiệu quả sử dụng chất Lân của cây trồng sẽ được tốt hơn.

·       Trên đất phèn, hiệu quả khi sử dụng Mg cho cây trồng rất cao. Trên các loại cây đa niên như Cao Su, Cà Phê, Hồ Tiêu, Cây Ăn Trái….Mg không chỉ giúp tăng năng suất mà còn làm tăng chất lượng nông sản. Mg cũng giúp cây chống hạn được tốt hơn nhờ tăng tính giữ nước trong dịch bào của cây.

·       Các cation như NH4+, K+, Ca++….có tính đối kháng với Mg, do vậy khi sử dụng URE, KCl, K2SO4, bón Vôi, nên chú ý bổ sung Mg cho đất và cho cây. Bón MgSO4.7H2O với liều lượng trung bình 50-60kg/ha /năm góp phần hạn chế tình trạng thiếu Mg.

+ Chất Canxi. (Ca = Calcium)

Cây trồng hấp thụ Ca dưới dạng Ca++.

Canxi là nguyên tố rất khó di động trong cây. Do vậy, ngoài việc bón vào đất , Canxi rất cần được cung cấp bằng cách phun xịt trực tiếp lên thân,lá và cả lên trái.

Canxi là thành phần của một số Enzym liên quan chặt đến quá trình trao đổi chất trong cây. Một tính chất rất quan trọng khác của canxi chính là sự điều chỉnh độ pH của dịch bào, tạo sự cân đối giữa các yếu tố dinh dưởng khác như  K+, Na+, Mg++….

Canxi ảnh hưởng chặc chẻ đến sự hình thành rễ non, đến đỉnh sinh trưởng của cây để tạo ra sinh khối mới.

Canxi làm dầy và vững vách tế bào, giúp cây chống đổ ngã, nứt trái đặc biệt góp phần chống lại sự xâm nhiểm của nấm và vi khuẩn gây hại.

Trong điều kiện trồng cây trên đất phèn, vai trò Canxi đặc biệt quan trọng để giảm ngộ độc Fe,Al và giải độc hữu cơ cho đất lúa. Trên đất nhiểm mặn, canxi cũng đóng vai trò tích cực để giải độc mặn do natri.

Bón vôi (canxi) vào đất sẽ giúp cho nấm hữu ích Trichoderma sp phát triển và ngược lại,sẽ khống chế nấm  Fusarium sp gây hại trên cây trồng. Ngoài ra, bón canxi cũng làm tăng khả năng hấp thu Kali và Molybden của cây .

Ngoài cây lúa trên đất phèn,cây đậu phọng trên đất nhẹ rất cần canxi, nhu cầu canxi cho cây cao su cũng rất cao để có nhiều mũ và độ cao. Các loại cây trồng khác như cà phê, cây ăn trái hoặc rau màu các loại như dưa hấu,ớt, cà chua….đều rất cần canxi.

Nguồn cung cấp canxi cho đất và cho cây, có thể sử dụng các loại như : đá vôi nghiền CaCO3 có tỉ lệ CaO khoảng 45-55%,  Vôi nung chứa khoảng 85-90% CaO,  Thạch cao CaSO4 có khoảng 30-35% CaO, Thermo Phosphate  có chứa khoảng 28-34% CaO. Loại vôi được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất  là vôi tôi hydrocid Ca(OH)2 có tỉ lệ CaO khoảng 50-70%. Vôi tôi là sự kết hợp giửa vôi nung và nước với tỉ lệ 1:1. Chú ý, khi tưới nước vào đá vôi nung, nhiệt độ tăng lên cao khoảng 150 độ C, để cho vôi nguội hoàn toàn mới được sử dụng. Về lượng vôi tôi để rãi, tùy loại đất mà dùng số lượng khác nhau , trung bình khoảng 500 kg-750 kg/ha/năm. Nên rãi vào đầu vụ và cày xới để trộn vôi vào đất. Chú ý, không trộn vôi với phân đạm và phân lân khi rãi. Cần bón vôi trước khi bón các loại phân khác vào đất ít nhất 10 ngày và có tưới nước cho vôi hòa tan vào đất. Trong việc ủ phân chuồng, cũng không nên đưa vôi vào vì khả năng mất đạm sẽ tăng lên cao.

Trường hợp cung cấp canxi qua dạng phun qua lá, có thể sử dụng Calcium Nitrate Ca(NO3)2 có hàm lượng CaO khoảng 26% hoặc Calcium Chloride  CaCl2 có hàm lượng CaO khoảng 51%. Với cả 2 loại nầy, nồng độ pha vào nước để phun xịt là khoảng 3- 3,5 phần ngàn.( 3-3,5 gram/1 lít nước)

Bón vôi  là chìa khóa để thành công khi trồng cây ở đồng bằng Sông Cửu Long ( Nguyễn Bảo Vệ, năm 2009.). Tuy nhiên, khi bón vôi liên tục qua từng vụ, từng năm,cần chú ý cung cấp thêm chất Đồng và Bo vào đất.

+ Chất Silic.


Si là nguyên tố cấu tạo tế bào.

Vai trò Silic thể hiện rỏ nhất ở 3 điểm chính :

·       Tạo dựng vách tế bào dầy, cứng chắc.

·       Góp phần chống lại sự xâm nhiểm của nấm và vi khuẩn. Ngoài Kali, Canxi thì Silic là nguyên tố góp phần giúp cho cây lúa chống lại bệnh cháy lá lúa hay còn gọi là bệnh đạo ôn (Blast)

·       Si làm giảm sự bốc thoát hơi nước thông qua khí khổng nên giúp cây chống nóng và chống hạn tốt hơn.

Trong tất cả các loại cây trồng đều có mặt của Silic nhưng họ hòa thảo là là loại mà hàm lượng Silic chiếm rất cao. Nếu căn cứ vào nhu cầu, vào sự hấp thu của Cây Lúa, có thể xếp Silic vào nhóm dinh dưỡng đa lượng. Người ta thấy rằng, nếu năng suất lúa đạt 8,6 tấn/ha, lượng silic mà cây lúa đã hút từ đất là 890 kg SiO2/ha ( Võ Minh Kha, năm1996.). Trong điều kiện trồng cây ở đất ngập nước, hàm lượng SiO2 dể tiêu để cây hấp thụ cao hơn so với cây trồng cạn.

Ngoài nguồn cung cấp SiO2 có sẳn trong đất, nguồn từ xác bả thực vật nhất là rơm rạ được cày vùi sau thu hoạch, nguồn Si có thể kể đến từ : Phân Lân Nung Chảy có chứa khoảng 28-32% SiO2,  Phân TV Super Vi Lượng của Cty TRÍ VIỆT có chứa trên 35% SiO2.

III.CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG.

Vi lượng là những chất mà cây trồng sử dụng rất ít, đơn vị tính thường là phần triệu (ppm). Mặc dù cây trồng cần rất ít,nhưng nó lại cực kỳ quan trọng cho sự sinh trưởng phát triển của cây trồng, các phản ứng sinh hóa xảy ra trong cây đều cần đến các enzyme xúc tác và chính các chất vi lượng liên quan chặt chẽ đến việc nầy. Việc hình thành diệp lục, sự tổng hợp protein, carbohydrate,lipid, viatamin….đều có sự tham gia của các nguyên tố vi lượng. Tuy nhiên, hầu hết các chất vi lượng đều khó di động trong cây, do vậy, muốn cây hấp thụ được các nguyên tố vi lượng thông qua bộ rễ hoặc qua lá, các cation có hóa trị 2 đều phải được chuyển qua dạng chelate (Phức chất vòng càng). Nếu sử dụng ở dạng thô như dùng MnSO4, CuSO4, ZnSO4…..hiệu quả sử dụng sẽ cực thấp. Sau đây là vài nguyên tố vi lượng quan trọng gắn liền với việc canh tác của nông dân.

+ Chất Kẽm (Zn = Zinc )

Cây trồng hút kẽm dưới dạng ion có hóa trị 2 : Zn++.

·       Kẽm là nguyên tố cấu tạo tế bào, tạo ra các mô mới, do vậy, kẽm liên quan chặc chẻ và trực tiếp đến sự phát triển của bộ rễ, sự đâm chồi, tạo cành lá, sự phân hóa hoa, ra bông đậu trái.

·       Kẽm ảnh hưởng đến việc hình thành Chlorophyll của cây nên liên quan trực tiếp đến quá trình quang hợp để tạo ra carbohydrate .

·       Kẽm là thành phần của một số amino acids, là tiền chất của một số auxin nội sinh, nên liên quan chặt chẽ đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng.

·       Kẽm ảnh hưởng đến sự tổng hợp các hợp chất quan trọng của cây như carbohydrate, protein, phospholipid….

·       Kẽm là thành phần của một số enzyme xúc tác các phản ứng sinh hóa quan trọng trong đời sống của cây.

·       Kẽm là nguyên tố khó di động trong cây.

Nguyên nhân thiếu kẽm có thể do một trong những nguyên nhân sau :

+  Do canh tác liên tục lâu năm mà không bón kẽm để hoàn trả.

+ Sự xoáy mòn,rữa trôi do mưa, nhất là ở vùng đồi dốc làm cho đất bị suy thoái,thiếu kẻm.

+ Đất mặn hoặc đất kềm có chứa nhiều CaCO3, MgCO3.

+ Đất nhiều hữu cơ hoặc bón quá nhiều phân chuồng.

+ Bón nhiều phân lân.

Những biểu hiện & hậu quả khi thiếu kẽm của cây trồng tiêu biểu :

+ Thể hiện trên lá non : lá nhỏ, hẹp so với lá bình thường , lá màu vàng nhạt ( cây tiêu) và đôi khi gân lá vẫn còn xanh( cây có múi).

+ Rễ ra kém, đầu chóp rễ đôi khi bị đen, cây đẻ nhánh kém (lúa), cây đâm tượt kém, yếu ớt, cành dể khô, chết cành (cây ăn trái).

+ Bông lúa nhiều hạt lép. Trên cây có múi, bông ra hoa thành chùm,hoa rất nhiều,nhưng bông bị rụng, trái nhỏ và chua. Trên cà phê,tình trạng bị khô đầu cành, hạt lép và trái bị hư khô xảy ra. Trên cây ăn trái nói chung, hoa và trái bị rụng nhiều.

+ Năng suất và chất lượng nông sản đều giảm thấp rỏ rệt.

Nguồn cung cấp chất kẽm :

Có thể nói, kẽm cần thiết cho mọi cây trồng : cà phê, hồ tiêu, cao su, cây ăn trái nhất là cây có múi.  Riêng lúa là loại cây trồng cần kẽm nhiều nhất so với tất cả các nguyên tố vi lượng khác.

Hiện nay, rất nhiều nông dân đã ý thức được tầm quan trọng của nguyên tố kẽm, do vậy, họ đã bón kẽm cho vườn cây rất nhiều. Tuy nhiên, tất cả chỉ bón kẽm ở dạng thô là sulphate kẽm ZnSO4.7H2O có chứa 23% Zn. Nhưng việc bón sulphate kẽm ở dạng thô như vậy chỉ tốn nhiều tiền mà hiệu quả cực thấp vì không có sự tương thích với rễ cây, đồng thời kẻm có thể bị oxid hóa thành ZnO , hoặc bị biến thành ZnCO3…rất khó hòa tan.

Bón hoặc phun kẻm ở dạng Chelate mới có hiệu quả trong sử dụng cho cây trồng .

+ Chất đồng (Cu)

Cây hút đồng ở dạng ion có hóa trị 2 : Cu++.

·       Đồng là nguyên tố cấu tạo tế bào, tạo ra các mô mới : hình thành rễ, thân cành lá và liên quan chặt chẽ đến sự phân hóa hoa.

·       Đồng liên quan đến việc hình thành diệp lục, các sắc tố và tổng hợp carbohydrate.

·       Đồng ảnh hưởng đến việc tổng hợp auxin nội sinh,vitamin,enzyme.

·       Đồng liên quan đến việc đóng mở khí khổng, tính chịu hạn và nắng nóng.

·       Đồng giúp cây chống chịu nấm và vi khuẩn gây hại.

·       Đồng là nguyên tố khó di động trong cây.

Các nguyên nhân gây ra thiếu đồng :

+ Do đất thoái hóa vì nông dân chỉ bón phân N,P,K mà không bón vi lượng trong đó có đồng.

+ Đất nhiều phèn, tình trạng thiếu đồng càng nặng. Phân tích mẫu đất phèn trồng lúa ở Tân Thạnh-Long An, hàm lượng đồng cực thấp ( Cty Trí Việt, năm 2010)

+ Đất bón nhiều vôi, nhiều đạm càng đưa đến tình trạng thiếu đồng nặng hơn.

Các biểu hiện khi thiếu đồng :

+ Thể hiện trên lá non,lá nhỏ lại, màu xanh nhạt và trắng màu khi thiếu đồng nặng.

+ Rễ phát triển kém, bông lúa nhiều hạt lép, bạc đầu. Cây có múi thường bị xì mủ đầu cành.

+ Khả năng ra hoa kém vì đồng ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân hóa mầm hoa. Năng suất,chất lượng nông sản đều thấp.

Việc cung cấp đồng :

Dùng đồng ở dạng thô CuSO4.5H2O có chứa 25% Cu nhưng khi bón vào đất hoặc phun xịt hiệu quả sử dụng cực thấp. Chỉ sử dụng đồng ở dạng chelate thì mới có hiệu quả.  Vài thuốc trừ bệnh gốc đồng ở dạng hydrocide (Copper hydrocide) như Kocide,Champion, ngoài việc phòng trị bệnh do nấm và vi khuẩn, đồng trong sản phẩm nầy cây hấp thu dể dàng nên góp phần bổ xung nguyên tố đồng cho cây.

+ Chất Bo ( B=Boron)

Cây hút Bo dưới dạng anion B4O7--, HBO3--.

Vai trò của Bo có nhiều, ở đây xin nêu vài điểm chính :

·       Bo liên quan đến việc thành lập tượng tầng của cây, liên quan chặt đến sự phát triển đỉnh sinh trưởng và việc ra rễ của cây.

·       Bo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hạt phấn, làm tăng tỉ lệ thụ phấn thụ tinh.

·       Bo ảnh hưởng đến việc thành lập tầng rời, thiếu Bo, dể dẫn đến rụng hoa,rụng trái.

·       Bo tổng hợp chlorophyll, hoạt hóa diệp lục trong quá trình quang hợp, ảnh hưởng đến sự thành lập auxin nội sinh trong cây.

·       Bo ảnh hưởng đến sự đóng mở khí khổng, điều hòa sự bốc thoát hơi nước, chống khô hạn và nắng nóng.

Nguyên nhân gây thiếu Bo.

Kết quả phân tích đất phèn trồng lúa ở Long An của CTY TRÍ VIỆT năm 2010 cho thấy, hàm lượng Bo trong đất chỉ dạng vệt, gần như không có.

Đất trồng trọt lâu ngày không cung cấp Bo cũng như sự rữa trôi làm cho tình trạng thiếu bo nặng hơn.

Việc bón nhiều vôi, đạm và kali mỗi vụ,mỗi năm càng làm cho sự thiết hụt Bo ngày càng nghiêm trọng.

Nguồn cung cấp Bo :

Ngoài lượng Bo có trong nước mưa hàng năm cung cấp khoảng 20g/ha, lượng Bo được cung cấp cho đất chủ yếu qua phân chuồng. Tuy nhiên sự rữa trôi và lượng Bo mà cây trồng đã lấy đi hàng năm từ đất khoảng 0,2-0,3kg/ha càng làm đất bị suy kiệt chất Bo.

Có thể sử dụng Borax Na2B4O7.5H2O có chứa 14,9% Bo hoặc Acid Boric H3BO3 có chứa 17.5% Bo. Liều lượng bón vào đất khoảng 10-12,5 kg/ha/năm.

Biện pháp nhanh và hiệu quả nhất là phun phân bón lá có chứa Bo vào các thời điểm trước khi cây ra hoa, vào giai đoạn cây đang mang trái.

+ Molybden (Mo)

Molybden không chỉ liên quan đến sự cố định đạm mà Mo ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân hóa hoa nhất là trên các cây thuộc họ đậu , cây họ bầu bí như dưa hấu, dưa leo, khổ qua và trên họ cà như cà chua,ớt….Nhu cầu Mo của cây trồng rất nhỏ nhưng Mo lại có những vai trò rất đặc biệt trong các phản ứng sinh lý sinh hóa trong cây. Phản ứng oxid hóa-khử trong quá trình hô hấp, sự khử CO2 và hoạt hóa diệp lục trong quá trình quang hợp đều có vai trò của Molybden.

Trong đất, hàm lượng Mo thường rất thấp chỉ khoảng vài phần triệu ( 2ppm). Mo trong đất thường là anion có hóa trị 4,5 và 6. Trong điều kiện đất chua, ion Mo ngoài việc bị keo đất hấp thụ, Mo còn bị kết hợp bởi Fe, do vậy, tình trạng thiếu Molybden luôn xãy ra. Cách khắc phục tốt nhất là phun sản phẩm phân bón lá có chứa Mo cho lúa, cho các loại cây trồng kể cả cà phê.

Ngoài ra, trong canh tác, có thể cung cấp Molybden cho cây bằng cách sử dụng Na2MoO4.2H2O có chứa 40-45% Mo hoặc sử dụng (NH4)2MoO4 có 49-52% Mo.

+ Sắt (Fe)

Thông thường khi nói đến nguyên tố sắt (Fe) trong trồng trọt, nhiều người chỉ nhìn ở khía cạnh độc hại của nó. Điều nầy đúng một phần vì khi hàm lượng Fe trong đất cao,nhất là trong điều kiện yếm khí, ion sắt nhị hòa tan trong dung dịch đất đã phá hủy, gây hư hại rất nặng cho bộ rễ cây trồng.

Hàm lượng sắt trong đất thường cao và có biến động rất lớn. Kết quả phân tích Fe trong đất phèn của CTY TRÍ VIỆT tại Kiên Giang và Long An năm 2011 cho thấy có sự biến động lớn từ 0,86% đến 2,56%. Trong đất thoáng khí, sắt có hóa trị 3 và thường ở dạng oxid,hydrocid hoặc Silicat .

Về vai trò tích cực của sắt, trước hết cần đề cập đến là sự tham gia trực tiếp vào sự sinh trưởng và phát triển cây trồng thông qua việc tham gia vào thành phần của diệp lục tố và xúc tiến hình thành các enzyme trong cây.

Các sản phẩm phân bón xuất xứ từ Mỹ thường có hàm lượng sắt chelate rất cao trong dung dịch : 4-5%. Nhiều sản phẩm dùng Chelate Fe  để biến lá từ vàng do thiếu sắt trở thành xanh khi cung cấp đủ Fe.

Cũng gần giống như trường hợp sulphur trên đất phèn, việc nồng độ cao  Fe++ và Fe+++ hòa tan trong dung dịch đất làm hư rễ cây không đồng nghĩa với việc cây đủ Fe.

+ Mangan (Mn).

Cây trồng hấp thụ mangan dưới dạng ion có hóa trị 2 : Mn++.

Mn là nguyên tố khó di động trên cây và việc bón mangan vào đất hiệu quả không cao nhất là khi sử dụng mangan ở dạng thô như MnSO4.4H2O.

Cũng như nhiều nguyên tố vi lượng khác, vai trò chính của mangan liên quan chặt chẽ đến việc hình thành diệp lục,việc phân hóa hoa và ảnh hưởng đến các quá trình sinh lý,sinh hóa khác trong cây như sự hút chất dinh dưỡng, sự khử CO2 trong quá trình quang hợp, sự tổng hợp carbohydrate,protein, vitamin, auxin và đặc biệt là các enzyme.

Trên đất phèn trồng lúa việc gây độc của Mn không đáng kể so với Al và Fe.

Do Mn là nguyên tố khó di động trên cây, nên biểu hiện thiếu Mn xãy ra trên lá non, lá bị loang lổ vàng dù gân lá vẫn còn xanh và kích thước lá không bị biến dạng hay hep lại. Trong trường hợp nầy,phun phân bón lá có chứa chelate Mn là biện pháp hữu hiệu để cung cấp Mn khi cây bị thiếu hụt.

Vạn vật có 2 kiểu dinh dưỡng là tự dưỡng và dị dưỡng. Thực vật nói chung và cây trồng nói riêng là sinh vật tự dưỡng vì chúng tự tạo nên được dinh dưỡng cho mình thông qua việc cố định khí CO2 của không khí dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời.

Chất có thể biến năng lượng của ánh sáng để cố định CO2 thành chất đường bột là chất diệp lục, có màu xanh đặc trưng – xanh lá cây. Tuy nhiên, nếu không có các nguyên tố khoáng khác và nước có trong đất được hấp thu bởi hệ rễ thì dù cho ánh sáng dồi dào, cây cũng không thể tự dưỡng biến CO2 thành đường, bởi vậy có thể nói cây trồng có 2 hệ thống sinh dưỡng, là hệ rễ và hệ lá.

HỆ THỐNG DINH DƯỠNG LÁ
                

Muốn cố định được nhiều CO2 thì có 2 điều kiện tiên quyết là phải nhiều ánh sáng và nhiều lá. Trong cùng một giống và một điều kiện ngoại cảnh, thì diện tích lá sẽ tăng nếu kéo dài được tuổi thọ của lá, cho các lá đứng để ít che khuất nhau. Mặt khác phải hạn chế tối đa phần lá “ăm bám”, là những lá bị che trong tán, quang hợp không đáng kể nhưng vẫn sử dụng và tiêu hao dinh dưỡng.

Với lúa, kỹ thuật bón phân rất quan trọng vì nếu bón phân đúng thì sẽ kéo dài được thời gian xanh của các lá đòng và sẽ rất ít “lá ủ” ở gốc lúa nên hiệu quả quang hợp sẽ tăng, kéo theo việc tăng năng suất.

Với cây ăn quả, thì việc tỉa cành tạo tán cũng sẽ hạn chế lá bị che khuất. Mặt khác, tùy từng cây, từng giai đoạn cụ thể việc duy trì các chồi ngọn cũng sẽ có tác dụng hạn chế các chồi nách, qua đó sẽ hạn chế được “lá ăn bám”.

Ngoài ra, lá cũng còn có thể là con đường cung cấp các khoáng chất trong các trường hợp cây ở giai đoạn khủng hoảng dinh dưỡng, con đường hấp thu qua rễ không kịp thời hoặc là các khoáng vi lượng, việc hấp thu qua rễ bị thất thoát lớn.

HỆ THỐNG DINH DƯỠNG RỄ

Muốn hệ rễ hấp thu được nhiều khoáng và nước thì hệ rễ phải   phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Với lúa, việc cày ải phơi đất là rất quan trọng vì nhờ vậy mà hệ rễ phát triển nhiều hơn, sâu hơn. Với cây trồng cạn việc phải xới xáo đất để cung cấp đủ ôxy cho rễ phát triển là điều kiện tiên quyết. Hệ rễ rất dễ bị tổn thương nếu gặp các điều kiện bất lợi như gặp đất phèn (các ion Fe ++, Al +++) hay bị ngộ độc hữu cơ,

Trên thực tế, khi bón phân đã có một lượng lớn phân bón bị thất thoát. Ngoài các yếu tố bất khả kháng, còn một số yếu tố khác có thể hạn chế nếu biết cách bón phân đúng.

+ Phải bón đúng vùng rễ: Diện tích vùng rễ phát triển theo hình chiều của tán lá, trong đó phần rìa phía ngoài tập trung nhiều rễ con, nhiều lông hút nên khi bón phân phải đào rãnh theo hình tròn của hình chiếu tán lá.

+ Phải bón kèm với việc tưới nước, nhất là với phân lân vì nước sẽ hòa tan phân đưa phân tới vùng hút của rễ.

THẤT THOÁT PHÂN BÓN VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ


Lượng phân bón thất thoát trong quá trình canh tác là rất lớn, nhất là lân, đạm và kali.

Với phân lân: Hiệu quả sử dụng phân lân rất thấp, trường chỉ đạt 25 – 30%. Phân lân thất thoát chủ yếu là do bị keo đất giữ chặt, do anion HPO4 gặp phải các Cation Fe ++, Al +++ sẽ biến thành các dạng khó tiêu, rễ không thể hấp thụ.

Có thể hạn chế tình trạng trên bằng cách đưa lân đến rễ nhưng không cho tiếp xúc với các cation Fe ++, Al +++. Một màng mỏng có bán chất là một axít hữu cơ có thê là AVAIL được phát kiến bởi các nhà khoa học Mỹ đã được Cty CP Phân bón Bình Điền áp dụng trong sản phẩm DAP Đầu trâu P+.

Các thực nghiệm trên diện rộng ở nhiều tỉnh, thành trên cả nước đã khẳng định sử dụng DAP Đầu trâu P+ tiết kiệm được 30% lượng phân lân nhưng năng suất vẫn đạt cao bình thường. Chính vì vậy mà loại phân này được đóng gói 35 kg/bao nhưng giá trị sử dụng bằng với bao phân DAP 50 kg thông thường.

Với phân đạm: Hiệu quả sử dụng phân đạm thường chỉ đạt 40 – 45%. Lượng đạm thất thoát chủ yếu do quá trình bay hơi N ở dạng amoniac. Việc các Cation NH4+ biến thành NH3 và NO3 do men Ureaza. Sẽ hạn chế được thất thoát nếu kiềm chế được hoạt động của men này và Agrotain, một phát kiến thú vị của các nhà khoa học Mỹ đã làm được việc đấy.

Agrotain được Cty CP Phân bón Bình Điền nhập khẩu độc quyền về Việt Nam và sản xuất nên đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+. Thực chất đấy là phân urê có hàm lượng đạm 46% nhưng nhờ có Agrotain nên tỷ lệ thất thoát đã được giảm xuống và bao phân đạm hạt vàng Đầu trâu 46A+ cũng chỉ đóng bao 35 kg nhưng giá trị sử dụng bằng với bao phân urê 50 kg thông thường.

Ngoài sản xuất nên phân đạm hạt vàng, Agrotain còn được sử dụng trong các chủng loại phân NPK như NPK Agrotain lúa 1, NPK Agrotain lúa 2…

Việc sử dụng các thành tựu khoa học hiện đại của thế giới không những mang lại hiệu quả cao cho người sử dụng mà còn giảm thiểu được ô nhiễm môi trường. Nhờ ưu việt đấy mà các sản phẩm của Bình Điền được tiêu thụ ngày càng nhiều, kể cả nội địa và xuất khẩu.

Theo Quang Ngọc - báo Nông Nghiệp Việt Nam

9/10/15

Công nghệ vi sinh hữu hiệu – EM là một công nghệ sinh học hiện đại, đa tác dụng và an toàn được phát minh bởi các nhà khoa học Nhật bản trong những năm 80, đứng đầu là GS.TS. Teruo Higa đến nay đã phát triển và được nghiên cứu ứng dụng rất thành công ở trên 200. Là một công nghệ mở, từ những nguyên tắc và hoạt chất cơ bản, đến nay EM đã được sử dụng với rất nhiều công dụng trong trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi – thú y, sản xuất phân bón vi sinh, thuỷ sản, xử lý vệ sinh môi trường, cải tạo đất, sản xuất các thực phẩm và dược phẩm chức năng, xử lý làm sạch nước bị ô nhiễm, xử lý rác… với hàng trăm loại chế phẩm EM, hàng ngàn sản phẩm EM. Một ưu thế lớn của công nghệ EM là tính rất an toàn đối với cây trồng, gia súc, con người, môi trường… cả trong quá trình sản xuất, điều chế, sử dụng và bảo quản.

Công nghệ EM du nhập vào Việt Nam đến nay khoảng hơn 10 năm, cũng đã được nghiên cứu ứng dụng khá rộng rãi ở hầu hết các địa phương trong nhiều lĩnh vực: như xử lý rác thải, nước thải, vệ sinh môi trường chăn nuôi, thuỷ sản, sản xuất nông nghiệp sạch, sản xuất phân bón vi sinh song thường ở quy mô nhỏ. Do vậy trong sản xuất và cuộc sống ứng dụng công nghệ EM còn nhiều hạn chế cần được khắc phục để thực sự trở thành một giải pháp kỹ thuật sinh học hiệu quả, an toàn, đa tác dụng, thân thiện môi trường được ứng dụng rộng rãi ở nước ta.

Bài viết này nhằm giới thiệu tổng quan về công nghệ EM và một số kết quả ứng dụng cho đến nay ở Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.

1. Cơ sở khoa học, ý tưởng và mục tiêu

1.1. Công nghệ EM sử dụng các vi sinh vật có ích (hữu hiệu) để khai thác tốt hơn tiềm năng ánh sáng và năng lượng mặt trời.

Theo các nhà khoa học Nhật Bản, các kết quả nghiên cứu cho thấy, khả năng lý thuyết sử dụng năng lượng mặt trời của cây xanh đạt khoảng 15 – 20% nhưng trên thực tế với hiệu quả quang hợp của diệp lục, chỉ đạt khoảng 1-3% và khó có thể tăng hơn được nữa.

Trong khi đó, các vi sinh vật có ích trong tự nhiên có thể nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng mặt trời để tạo ra các sinh khối, với sự có mặt của các chất hữu cơ, vi khuẩn quang hợp và tảo có thể sử dụng bước sóng có phạm vi từ 700 – 1200mm mà cây xanh không sử dụng được.

1.2. Công nghệ EM sử dụng các vi sinh vật để phân giải nhanh, triệt để các chất hữu cơ phế thải trong tự nhiên, qua đó giải phóng, tái tạo năng lượng và dinh dưỡng cho đất, cây trồng và môi trường trong một chu kỳ sinh học khép kín. Vì vậy, một yếu tố quan trọng để tăng sản xuất cây trồng và sinh khối là khả  năng sử dụng các chất hữu cơ thông qua hoạt động của các vi sinh vật có ích với sự giúp sức của năng lượng mặt trời, điều mà cây xanh không làm được.

Công nghệ EM sử dụng và bổ sung nguồn vi sinh vật có ích để tạo lập thể cân bằng mới trong thế giới vi sinh vật tự nhiên theo chiều hướng có lợi cho môi trường, cây trồng, đất đai và con người.

1.3. Công nghệ EM nhân nuôi khối lượng vi sinh vật có ích bổ sung vào tự nhiên làm lệch cán cân vi sinh vật, kéo theo vi sinh vật trung tính để khống chế và triệt tiêu sự phát triển và tác dụng của vi sinh vật có hại, phòng ngừa và ngăn chặn các dịch hại mà không phải sử dụng hoá chất.

1.4. Công nghệ EM được các nhà khoa học phát minh ra nó coi là nội dung kỹ thuật nền tảng và quan trọng của một nền nông nghiệp mới – Đó là “nông nghiệp thiên nhiên”, sự kết hợp giữa nông nghiệp truyền thống và nông nghiệp thâm canh với sự giảm thiểu tối đa việc sử dụng hoá chất nông nghiệp; khai thác tối đa các yếu tố sinh thái; Rõ ràng, sử dụng vi sinh vật có ích là một giải pháp công nghệ nhằm khai thác tốt hơn mọi tiềm năng của các yếu tố sinh thái - đặc biệt là năng lượng mặt trời và các chất hữu cơ - để tạo nên sự tăng trưởng mới về năng suất cây trồng và sinh khối tự  nhiên, tạo nên một nền nông nghiệp không phụ thuộc vào sử dụng các loại hoá chất, phát triển bền vững và thân thiện môi trường. Sử dụng “Công nghệ vi sinh” thay  thế “công nghệ hoá chất nông nghiệp”, nhằm đạt 4 mục tiêu lớn là:

Sản xuất đủ lương thực, thực phẩm cho xã hội; Sản xuất các sản phẩm sạch và an toàn cho sức khoẻ của con người; Sản xuất có hiệu quả về kinh tế và tinh thần cho cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng và đảm bảo sự bền vững của nông nghiệp và môi trường.

2. EM là gì?

2.1. EM là cụm từ tiếng Anh “Effective microorganism” viết tắt có ý nghĩa là “vi sinh vật hữu hiệu”.

- Công nghệ EM là công nghệ sản xuất và sử dụng chế phẩm EM, là nội dung kỹ thuật quan trọng và cốt lõi của “nông nghiệp thiên nhiên”.

- Chế phẩm vi sinh EM là 1 cộng đồng các vi sinh vật bao gồm từ 80 – 120 loại vi sinh vật có ích thuộc 4-5 nhóm vi sinh vật khác nhau, nhưng có thể sống hoà đồng với nhau được nhân lên rất nhanh về số lượng qua quá trình lên men, khi được sử dụng sẽ có nhiều tác dụng, đồng thời phát huy các vi sinh vật có ích sẵn có trong đất và môi trường, lấn át, hạn chế các vi sinh vật có hại.

Chế phẩm EM được điều chế ở dạng nước và dạng bột (dạng nước gọi là dung dịch EM, dạng bột gọi là EM Bokashi). Thông thường có các loại EM sau đây:

- EM1 là dung dịch EM gốc, chủ yếu để điều chế các dạng EM khác

- EM thứ cấp là dung dịch EM có tác dụng phân giải các chất hữu cơ, khử trùng, làm sạch môi trường, cải thiện tính chất hoá lý của đất, tăng trưởng vật nuôi…

- EM5 là dung dịch EM có tác dụng hạn chế, phòng ngừa sâu - bệnh, tăng cường khả năng đề kháng, chống chịu của cây trồng, tăng trưởng của cây trồng…

- EM FPE (gọi là EM thực vật) là dung dịch EM có tác dụng kích thích sinh trưởng cây trồng và tăng năng suất, chất lượng cây trồng.

- EM-Bokashi có nhiều loại, dạng bột, như là Bokashi môi trường, Bokashi phân bón, Bokashi - thức ăn chăn nuôi… có tác dụng phân giải các chất hữu cơ, cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, cải tạo đất, tăng trưởng cây trồng và vật nuôi, chăn nuôi hạn chế dịch bệnh, làm sạch môi trường.

- Ngoài ra còn có EM.X mà ở nhiều nước sử dụng để điều chế các thực phẩm chức năng và dược phẩm, mỹ phẩm phục vụ chăm sóc sức khoẻ con người.

2.2. Dung dịch EM là chất lỏng, màu vàng nâu, hoàn toàn vô hại với cây trồng, gia súc và con người, kỵ với các hoá chất, cần được bảo quản nơi khô mát, có mùi chua ngọt rất đặc trưng, độ pH dưới 3,5. Nếu độ pH trên 3,5 đặc biệt là trên 4, có mùi hắc hoặc thối là chế phẩm đã bị hỏng phải loại bỏ.

- Nguyên liệu chủ yếu để điều chế các chế phẩm EM là nước sạch, rỉ đường, các chất hữu cơ có nguồn gốc thực vật và động vật cùng một số phụ gia.

- Thành phần vi sinh vật chủ yếu trong chế phẩm EM.

- EM bao gồm từ 80 – 120 loại vi sinh vật có ích chủ yếu thuộc 5 nhóm sau:

- Vi khuẩn quang hợp: có tác động thúc đẩy các vi sinh vật khác nhau sản xuất các chất dinh dưỡng cho cây trồng.

- Vi khuẩn axit lactic: có tác dụng khử trùng mạnh. Phân huỷ  nhanh chất hữu cơ làm mất mùi thối, giảm khí độc và làm sạch môi trường.

- Men: tạo ra quá trình phát triển các chất sinh trưởng cho cây trồng và vi sinh vật.

- Xạ khuẩn: có tác dụng phòng chống các vi sinh vật có hại.

- Nấm men: tác dụng khử mùi, ngăn ngừa các côn trùng có hại.

- Như vậy, các vi sinh vật hữu hiệu EM hoàn toàn có bản chất tự nhiên, sẵn có trong thiên nhiên, quá trình sản xuất hoàn toàn là một quá trình lên men với các nguyên liệu tự nhiên, không chứa đựng bất cứ sinh vật lạc hoặc biến đổi di truyền nào, cho nên hoàn toàn đảm bảo “an toàn sinh học”.

2.3. Tác dụng của EM


Có thể nói, EM là một chế phẩm sinh học khá diệu kỳ bởi sự điều chế - sản xuất rất đơn giản và đặc biệt bởi tính đa tác dụng của nó. EM vừa là một loại phân bón vi sinh, vừa là một chất kích thích sinh trưởng cây trồng và vật nuôi, vừa là một loại nông dược phòng ngừa dịch bệnh, vừa là chất khử trùng và làm sạch môi trường… EM có tác dụng chủ yếu sau đây:

- EM thúc đẩy quá trình phân giải chất hữu cơ, thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh vật có ích trong đất, hạn chế hoạt động của vi sinh vật  hại, qua đó góp phần cải tạo đất, nâng cao độ phì của đất một cách bền vững, tăng nguồn dinh dưỡng dễ hấp thụ cho cây trồng.

- EM làm giảm mùi hôi thối, khử trùng, giảm các chất độc hại và ruồi muỗi trong môi trường do đó có tác dụng làm sạch  môi trường, nhất là môi trường nông thôn.

- EM làm tăng cường khả năng quan hợp của cây trồng, thúc đẩy sự nảy mầm phát triển, ra hoa quả, kích thích sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi, làm tăng khả năng đề kháng và tính chống chịu, qua đó góp phần tăng năng suất và phẩm chất cây trồng, gia súc và thuỷ sản, nhưng lại rất an toàn với môi trường và con người.

- EM hạn chế, phòng ngừa nguồn dịch bệnh của cây trồng và vật nuôi.

Do những tác động trên, EM có thể sử dụng rất rộng rãi trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, trong làm sạch  môi trường, góp phần tạo lập sự bền vững cho nông nghiệp và môi trường, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

2.4. Cơ chế tác động của EM

Cơ chế tác dụng chủ yếu của EM thể hiện ở 3 nội dung:

- Bổ sung nguồn vi sinh vật có ích cho đất và môi trường qua đó phát huy tác dụng của các vi sinh vật có ích và trung tính, hạn chế - ngăn chặn làm mất tác dụng của các vi sinh vật hại theo chiều hướng có lợi cho con người – cây trồng - vật nuôi - đất đai và môi trường.

- Thúc đẩy quá trình phân giải các chất hữu cơ trong tự nhiên qua đó giải phóng năng lượng và dinh dưỡng cho cây trồng, đất đai, môi trường.

- Góp phần ngăn chặn oxy hoá trong tự nhiên.

3. Tóm tắt tình hình nghiên cứu, sản xuất ứng dụng công nghệ EM trên thế giới

3.1. Trong những năm 80 công nghệ EM được nghiên cứu và ứng dụng thành công ở Nhật Bản

Từ năm 1989 công nghệ EM được mở rộng ra các nước. Đến nay, sau 20 năm đã có hơn 180 nước và vùng lãnh thổ tiếp cận với EM dưới nhiều hình thức: 9 hôi nghị - hội chợ quốc tế về EM đã diễn ra với sự tham gia của hàng ngàn nhà khoa học khắp năm châu, giới thiệu hàng trăm chế phẩm EM, hàng ngàn sản phẩm EM. Thành lập nhiều tổ chức nghiên cứu EM (EMRO) và rất nhiều Trung tâm huấn luyện EM quốc tế và quốc gia. Ở Nhật có 48 trung tâm, Thái Lan có trung tâm quốc tế EM… Thành lập nhiều Hiệp hôi EM ở các nước, nhiều công ty kinh doanh EM… Kể cả những tổ chức quốc tế như APNAN.

3.2. Việc tổ chức nghiên cứu sản xuất EM được phát triển mạnh

Theo tổ chức APNAN, số lượng sản phẩm EM1 được sản xuất năm 2007 trên thế giới khoảng 4000 – 5000 tấn trong đó các nước Đông Bắc Á là 2100 tấn. Các nước Đông Nam Á là 1400 tấn, Nam Á là 500 tấn, Mỹ Latinh 120 tấn, Châu Phi và Trung Đông 230 tấn, Châu Âu 200 tấn.

Triều Tiên có trung tâm EM thuộc Viện nghiên cứu quốc tế EM, hàng năm sản xuất 1200 tấn EM1, có 100 xưởng sản xuất EM2 với công suất 500 – 2000 tấn/xưởng/năm, đã áp dụng EM trên diện tích 1 triệu ha trồng trọt. Trung Quốc có 10 xưởng sản xuất EM1, công suất 1000tấn/năm.

3.3 Kết quả hơn 20 năm ứng dụng công nghệ EM trên hàng trăm nước khắp các châu lục cho thấy, đây là một công nghệ sinh học đa tác dụng, rất an toàn, hiệu quả cao, thân thiện môi trường, dễ áp dụng trong sản xuất và đời sống. Các lĩnh vực sử dụng EM phổ biến và thành công là xử lý rác thải, nước thải bị ô nhiễm; khử mùi, khử trùng, giảm khí độc, ruồi muỗi; xử lý vệ sinh môi trường trong chăn nuôi sạch, nuôi tôm, trồng nấm, nuôi ong.

Là một công nghệ mở, EM còn được áp dụng trong nhiều lĩnh vực đặc thù như: sản xuất thực phẩm chức năng, dược phẩm, mỹ phẩm, đồ gốm EM phục vụ chăm sóc sức khoẻ (Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Pakistan, Đức…); xử lý bảo dưỡng sân golf, bể bơi, công trình xây dựng (Mỹ, Đức…); xử lý ô nhiễm phóng xạ nguyên tử của nhà máy Cheenobyn (Belorussia); xử lý vệ sinh môi trường sau lũ lụt, động đất (Trung Quốc, Áo, Thái...) ; hỗ trợ chữa bệnh kể cả bệnh về gan, ung thư (Đức, Pakistan…); sản xuất nông nghiệp hữu cơ hoàn toàn không sử dụng hoá chất nông nghiệp (Thái Lan, Đức…)

Đánh giá và xu hướng chung là đẩy mạnh việc nghiên cứu, huấn luyện, sản xuất, ứng dụng công nghệ EM, coi đây là một giải pháp công nghệ cơ bản thay thế công nghệ sử dụng hoá chất nông nghiệp để phát triển một  nền nông nghiệp sạch - bền vững.

Đồng thời  khai thác tính “đa tác dụng” của EM, người ta tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng EM trên rất nhiều lĩnh vực mới của sản xuất, tự nhiên, đời sống. Rất nhiều nhà khoa học, tổ chức KHCN, quốc gia… cho rằng, công nghệ EM là công nghệ sinh học của thế kỷ 21!

Trương Quốc Tùng, - KHKT Chăn nuôi
Nguồn Vusta.vn

    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com