Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

18/1/15

Tiêu đen được hái khi chùm có vài trái chín, lý tưởng nhất vẫn là trái chín hết nhưng như vậy sẽ gây hao hụt lúc thu hoạch vì trái bị rụng, chim,dơi phá hoại.
Sau khi hái các gié được chất thành đống, ủ trong 5 giờ, sau đó đem ra phơi 3-4 ngày, tiêu héo mặt và hạt trở thành màu đen , sau đó đem đạp hay chà để lấy hạt, tiếp tục đem phơi lại cho thật khô ( độ ẩm còn 11-12 %) , sàng lọc , phân loại kỹ trước khi vô bao.

(Gié hồ tiêu chín)
Tiêu đen thương phẩm có trọng lượng sau khi chế biến còn lại khoảng 1/3 tiêu xanh : 100 kg tiêu tươi còn khoảng 30-35 kg tiêu đen.

1. Tiêu trắng hay tiêu sọ
Theo phương pháp dân gian, tiêu đen được ngâm trong nước khoảng 10-15 ngày, vỏ sẽ bị mềm, nứt tét ra, vớt lên bỏ vào thúng ngâm trong nước lấy chân đạp cho tróc vỏ hết, rửa sạch , đem phơi khô khoảng 12 giờ, tiêu khô. Trung bình 100 kg tiêu đen cho 70 kg tiêu sọ, 100 kg tiêu chín cho 28 kg tiêu sọ.
Tại đảo Bangka, người ta làm như sau: những trái tiêu chín được cho vào túi và nén thật chặt. Túi được may miệng kín , và thả trong bể có thể thay đổi nước được, hoặc ngâm tại dòng nước chảy chậm để tiêu có màu sắc đẹp. Khi phần trung bì mếm ra , ta có thể tách dễ dàng ( khoảng 6-10 ngày ngâm). Sau đó người ta vớt các túi ra khỏi nước, trút tiêu hết và rửa sạch, các hạt lép và tạp chất được bỏ đi. Hạt tiêu sau đó được phơi nắng từ 2-3 ngày . Khi hạt tiêu bắt đầu khô dần thì màu sắc cũng bắt đầu chuyển từ xám sang trắng, độ ẩm còn 10-15% trọng lượng còn 21-26% là được.
Tại Ấn Độ, hầu như toàn bộ chế biến ra tiêu đen, nhưng một sốt ít xuất khẩu thì chế biến ra tiêu trắng.Để chế biến ra tiêu trắng, người ta ngâm tiêu đen trong nước 2-3 ngày, rồi chà giữa hai tấm thảm làm bằng sợi dừa để loại vỏ ngoài của tiêu.
Tại Campuchia và tại các vùng trọng điểm trồng tiêu nước ta, tiêu trắng được chế biến từ tiêu đen. Trước hết qua sàng lọc chọn lấy những trái lớn, cho vào các bao bố, sau đó ngâm những bao tiêu này trong nước lợ 10-15 ngày. Phần ngoài của ngoại vỏ bì phồng lên, mục nát và tét ra khỏi hạt, khi thấy vỏ đã nẫu thì vớt ra bỏ vào thúng, ngâm trong nứơc, lấy chân đạp cho hết vỏ, đãi và rửa sạch. Sau đó lấy đi phơi, quạt sạch và đóng gói.Trọng lượng mất đi khoảng 30%, tức 100 kg tiêu đen còn lại 70 kg tiếu trắng.


2. Tiêu đỏ
Những hạt tiêu thật chín được đem phơi khô, khi khô hạt tiêu có màu đen nhưng vẫn ửng đỏ. Tiêu này rất nặng và thơm ngon. Loại tiêu này thường không bán ra thị trường, chỉ được chế biến làm quà biếu hoặc tiêu thụ cá nhân.
Thu hoạch khi quả tiêu trên cây hầu hết đã chín đỏ => Máy tách quả => rửa nước sạch => xấy đạt 13- 14 % độ thủy phần => phơi nắng đạt 11- 12% độ thủy phần => đóng bao Polime hút chân không => tiêu thụ hoặc cất trữ.
Tại Phú Quốc (Kiên Giang) và Chư Sê (Gia Lai) đã chế biến tiêu đỏ, nhưng số lượng chưa nhiều, chỉ tiêu dùng trong nước với giá khá cao gấp 3 - 4 lần giá tiêu đen khô.
Tiêu đỏ phơi khô trước khi đóng gói


3. Tiêu xanh
Tiêu xanh không thu hoạch khi gần chín, mà thu hoạch khi tiêu còn xanh, trước khi tiêu chín khoảng 2-3 tháng. Sau khi lấy hột, rửa sạch, tiêu được nhồi với thịt cá để nấu.
Tiêu xanh còn được ngâm dấm làm dưa tiêu ăn rất lâu.


4. Tiêu chim
Trái tiêu khi chín có vị ngọt, chim đến ăn, ngoại quả bì của hat tiêu được bộ máy tiêu hóa của chim tiêu hóa, còn hạt tiêu thì đươc thải ra. Ở những nơi chimthường tụ tập, ta có thể nhặt được nhiều những hạt tiêu này. Sau đó hạt tiêu được đem rửa sạch, phơi khô. Loại tiêu này cũng thuộc hạng tốt, tương đương với tiêu đỏ.

                                                                                                                                         hotieuvietnam

12/1/15

Thực hiện chương trình hoạt động hang năm của Hiệp hội, trong hai ngày 23, 24/12/2014, Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đã tổ chức chuyến tham quan khảo đợt 1 một số vùng trồng tiêu trọng điểm vụ 2015 tại tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.

Tham gia đoàn khảo sát có 13 người đến từ các đơn vị Hội viên gồm: VPĐD Catz International, Cty KSS Việt Nam, Cty CP tập đoàn Intimex, Cty CP Cà phê Petec, Hiệp hội Hồ tiêu Chư Sê , Văn phòng đại diện Eurosa Corporation, Công ty CP Nông nghiệp và thực phẩm Hà Nội Kinh Bắc - Chi nhánh Gia Lai và Văn phòng Hiệp hội.

Mục đích khảo sát: Dự báo sản lượng thu hoạch vụ tiêu 2015 so với vụ 2014 , qua đó góp phần giúp doanh nghiệp và bà con nông dân có kế hoạch định hướng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, điều tiết tiến độ xuất khẩu cho phù hợp với thị trường trong năm 2015 đạt kết quả cao.

Phương pháp khảo sát: Để bảo đảm tính khách quan, ngoài việc thăm vườn tiêu và phỏng vấn trực tiếp các chủ vườn, đoàn còn trao đổi và ghi nhận ý kiến đánh giá về kết quả sản xuất của một số cán bộ chuyên ngành ở địa phương

Địa điểm khảo sát: Chọn vùng, chọn hộ trồng tiêu trồng tiêu đại diện, chọn những vườn tiêu đã khảo sát năm trước (để đối chiếu so sánh).

1. Tại Đồng Nai:
- Khảo sát 5 hộ tại ấp 3 và ấp 6, xã Lâm San, huyện Cẩm Mỹ. Diện tích khảo sát 13,6 ha, phần lớn là vườn tiêu trẻ. Vụ 2014 thu 31 tấn, năm 2015 ước thu 28 tấn,  giảm 9,3%;

- Khảo sát 2 hộ tại xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, với diện tích 5,8 ha. Vườn tiêu đã kinh doanh khai thác 7 năm. Năm 2014 thu 14,5 tấn, năm 2015 ước thu 6,5 tấn, giảm 55,2%.
Diện tích trồng Hồ tiêu liên tục tăng tại Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu
Vườn tiêu trẻ, xung mãn đang cho thu hoạch
2. Tại  Bà Rịa Vũng Tàu:
- Khảo sát 3 hộ tại ấp Phú Thọ, xã Hòa Hiệp, huyện Xuyên Mộc, với diện tích 2,5 ha. Năm 2014 thu hoạch 5 tấn, năm 2015 ước đạt 7,5 tấn, tăng 50%. Sản lượng tăng là do tăng diện tích kinh doanh.

- Khảo sát 1 hộ tại thôn Xuân Thọ, xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức trên vườn tiêu xen cà phê,  diện tích tiêu ước khoảng 0,7 ha. Năm 2014 thu hoạch 3 tấn tiêu, năm 2015 ước thu 1,5 tấn,  giảm 50%.
Vườn tiêu già có năng suất kém hơn so với vụ 2014
Đánh giá chung:

- Theo Bà Nguyễn Thị Điệp kỹ sư nông nghiệp - chuyên viên phòng Nông nghiệp huyện Cẩm Mỹ, Ông Nguyễn Văn Đông - Trưởng trạm  BVTV huyện Châu Đức, Ông Đoàn Minh Toàn - Trưởng trạm BVTV huyện Xuyên Mộc, Ông Trần Hữu Thắng – chủ nhiện liên Câu lạc bộ nông dân sản xuất tiêu năng suất cao của xã Xuân Thọ huyện Xuân Lộc, Ông Lê Văn Vịnh - Chủ nhiệm HTX sản xuất nông nghiệp Xuân Thọ, Xuân Sơn huyện Châu Đức (tham gia Đoàn) cho biết: Sản lượng Hồ tiêu giảm ở các nơi chủ yếu do điều kiện thời tiết bất lợi, đăc biệt trong tháng 7 và 8/2014 mưa to kéo dài trên diện rộng vào đúng thời điểm tiêu ra hoa kết trái vốn là thời điểm quyết định năng suất nhất.

- Qua các ý kiến thống nhất trong đoàn, kết hợp ý kiến phản ánh của bà con nông dân và cán bộ quản lý chuyên ngành của địa phương, thống kê sơ bộ ban đầu về sản lượng tiêu vụ 2015 nơi đoàn đến như sau:

+ Sản lượng tiêu 2015 ở xã Lâm San huyện Cẩm Mỹ tương đương năm 2014 
+ Sản lượng tiêu 2015 ở xã Xuân Thọ huyện Xuân Lộc giảm 30-40% so 2014 
+ Sản lượng tiêu 2015 ở xã Hòa Hiệp huyện Xuyên Mộc  giảm 20-25% so 2014 
+ Sản lượng tiêu 2015 ở xã Xuân Sơn huyện Châu Đức giảm 25-30% so  2014
Đoàn doanh nghiệp khảo sát vườn tiêu tại Bà Rịa Vũng Tàu
Để dự báo sản lượng tiêu vụ 2015 sát thực hơn, VPA sẽ tổ chức tham quan khảo sát tiếp các tỉnh trồng tiêu trọng điểm tại các tỉnh Bình Phước, Đắc Nông, Đắc Lắc và Gia Lai, dự kiến vào đầu tháng 2/2015 (chi tiết thông báo sau trên Web của VPA). Đề nghị các Hội Viên tích cực hợp tác tham gia đông đảo.
Theo VPA

(Bệnh chết nhanh hồ tiêu)

Trong thời gian vừa qua tình trạng dịch hại trên cây hồ tiêu đang diễn ra rất phức tạp trên địa bàn các tỉnh tây nguyên. Nó đã gây ra thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các hộ nông dân. Ở đây ta có thể nhìn nhận lại rằng người nông dân trồng cây hồ tiêu như đang “đánh bạc” vì thế cho nên có những nhà sẽ giàu lên rất là nhanh nhờ khoảng kinh tế khá cao từ cây hồ tiêu, nhưng bên cạnh đó cũng không ít người nông dân đã mất hết gì nó.


Khi lợi ích kinh tế từ cây hồ tiêu đem lại khá cao cho nên chúng ta chạy theo phong trào nhà nhà trồng cây hồ tiêu. Những diện tích cây cà phê dần dần được thay thế thành những hàng tiêu xanh mướt nhưng có ai biết được rằng kinh doanh mặt hàng nào đem ta lợi nhuận cao thì rủi ro cũng cao theo không? Có ai biết được rằng những hàng tiêu xanh mướt được bao lâu không? Đó là những câu hỏi mà chúng ta cần phải phân tích và tích toán thật cẩn thận trước khi quyết định đầu tư cây hồ tiêu.

Cây tiêu là loại cây trồng rất khó chịu, nếu bà con chúng ta muốn đầu tư nó hãy nắm thật vững những hiểu biết cơ bản về đặc tính của loại cây này cũng như những căn bệnh đầy rủi ro trên loài cây này để tránh tình trạng mất hết không còn gì.
Nếu chạy theo lợi nhuận trồng tiêu theo phong trào mà không nắm vững kỹ thuật trồng và chăm sóc cây thì đây là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng lây lan dịch hại trên cây hồ tiêu như hiện nay.

Đối với dịch hại trên cây hồ tiêu nổi trội nhất là căn bệnh nan y “chết nhanh” do loại nấm có tên khoa học là phytophtora gây ra. Nó thường phát triển vào mùa mưa, đặc biệt là giai đoạn giữa cho đến khi hết mùa mưa và biểu hiện nhiều nhất là sau những cơn mưa có những ngày nắng là tiêu chết hàng loạt và căn bệnh này hiện nay chúng ta đã không có thuốc chữa khi phát hiện nó.

Sở dĩ ta gọi nó là chết nhanh nhưng thực sự nó đã chết lâu hơn rồi. Khi cây biểu hiện bệnh là toàn bộ hệ thống rể ngầm của nó đã bị thối hoàn toàn cho nên chúng ta không chữa trị được. Nhưng hiện tượng tại sao tiêu vẫn còn xanh khi cây tiêu đã bị thối hệ thống rể từ lâu? Tại vì trên cây tiêu nó còn hệ thống rể phụ trên thân gửi cho nên nó có thể đảm nhận hút một phần nước nào đó tronng lúc trời mưa, sương hay là lúc ta tưới nước nên cây tiêu vẫn xanh bình thường nhưng khi gặp nắng quá trình thoát hơi nước quá nhiều mà cây không lấy lại được phần nước bù vào cho nên cây trồng bị héo đi và ta gọi là chết nhanh.

Đối với loại bệnh này chúng ta chỉ có biện pháp phòng ngừa định kì hằng năm đặc biệt vào mùa mua bằng cách đổ thuốc diệt nấm và diệt tuyến trùng cùng với đó bổ sung hệ vi sinh vật có lợi cho đất trồng cũng như dinh dưỡng để cây trồng nâng cao khả năng đề kháng tự kháng lại bệnh. Khả năng đề kháng của cây trồng nó quyết định đến sự tồn tại của chúng sau đợt dịch bệnh.

Chúng ta thấy có những trường hợp trong cùng một trụ tiêu thì có dây bị bệnh có dây không bị bệnh, hay trong một đám tiêu có những vườn chết theo từng khu mà có vườn chết lẻ tẻ mỗi nơi một trụ? Đó là liên quan đến sự đề kháng của cây trồng, cũng như đề kháng trên con người chúng ta.

Ví dụ trong những đợt dịch cảm cúm thì trong gia đình có người bị và có người không? Người nào dề kháng yếu thì sẽ bị bệnh trước. Hay ta có thể làm tăng sức đề kháng để chống lại bệnh bằng cách uống C chẳng hạn gì thế cây trồng cũng vậy.

Đặc biệt không được làm tổn thương bộ rể cây hồ tiêu. Sau mỗi lần ta phòng bệnh thì hệ vi sinh vật có lợi cũng chết theo gì thế cho nên chúng ta cần thiết phải bổ sung vào đất trồng chúng ta một lượng vi sinh vật có lợi để ức chế sự sinh trưởng của vi sinh vật gây hại.

Ở đây theo nguyên tắc đa dạng sinh học thì ta không có thể tiêu diệt hoàn toàn một loại vi sinh vật nào mà chúng ta cần hạn chế chúng ở một giới hạn cân bằng để không phát triển thành dịch. Đối loại bệnh này ta phải thực hiện biện pháp phòng bệnh đồng loạt trên diện rộng.


(Họp mặt nhóm - chia sẻ kinh nghiệm)

Trong một thời gian đi công tác rất nhiều thôn, buôn của tỉnh Đaklak tôi có tham khảo ý kiến của bà con thông qua các cuộc hội thảo. Cũng có rất nhiều bà con thực hiện phòng bệnh trên cây trồng rất tốt nhưng một mình chưa đủ cho nên tôi hỏi một số bà con rằng “có bao giờ chúng ta rủ các vườn bên cạnh đồng loạt thực hiện phòng bệnh chưa?” tất cả đều trả lời rằng “nhà ai nấy phòng, rảnh đâu phòng đấy”, hay “có những nhà bên cạnh vườn họ chết nhiều quá họ chán nản họ bỏ không phòng hay xử lý luôn tôi sợ lây sang vườn tôi nên tôi phòng”.

Bà con thấy như vậy thì tình trạng dịch hại có lây lan trên diện rộng không? Cho nên chúng ta phải thực hiện phòng bệnh đồng loạt. vườn nào có bệnh xảy ra thực hiện xử lý cây bệnh và phòng các cây khác để hạn chế sự lây lan diện rộng.Hay một số bà con chúng ta sử dụng một số loại thuốc nằm trong doanh mục cấm đã rất lâu điều này lại ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nữa.

Khi bà con chúng ta sử dụng một số loại thuốc cấm trong đó có nokap tuy rằng bà con chúng ta thấy hiệu quả của nó cao, thời gian kéo dài, nhưng nó ảnh hưởng đến chúng ta rất nhiều vấn đề mà bà con chúng ta chưa để ý. Thứ nhất là vấn đề về đa dạng sinh học, khi sử dụng loại thuốc này nó tiêu diệt tất cả các loài sinh vật luôn, cái thứ hai là môi trường loại thuốc này cực độc và ảnh hưởng rất lớn đến môi trường.

Thứ ba là vấn đề sức khỏe cho người sử dụng và những người xung quanh. Khi tôi đi thăm vườn cho một số bà con tôi có ngửi thấy một mùi lạ tôi hỏi thì ra bà con đang dùng nokap. Quả thật làm tôi đau đầu và rất khó chịu. Tôi có hỏi một số bà con đã sự dụng thuốc đó bác không cảm giác khó chịu khi sử dụng nó à? Bác trả lời mệt lắm nhưng nghe người ta bày tôi làm theo. Nhưng hậu quả gấy ra rất lớn cho môi trường và sức khỏe, ảnh hưởng đến không khí, nguồn nước mà thời gian lại kéo dài.

Điều đáng nói nữa nó sẽ là nguyên nhân gây mất giá tiêu ảnh hưởng đến kinh tế nếu không ngăn chạn kiệp thời. Vì tiêu chúng ta là để xuất khẩu chứ không phải là để tiêu dùng trong nước cho nên nếu mà hàm lượng các chất độc bị cấm có tồn dư trong hồ tiêu Việt Nam thì liệu ta xuất khẩu được hay không? rồi giá tiêu sẽ về mức nào? Chẳng hay một con sâu đã làm rầu nồi canh. Cho nên rất mong cơ quan chức năng xem xét vấn đề này! Nếu không cây hồ tiêu lại hạ giá và mất thương hiệu hồ tiêu Việt Nam.

Điều đáng nói trong trời gian qua các gia đình đang ồ ạc phá bỏ cà phê chạy theo hồ tiêu, ta đánh giá sự rủi ro như thế nào? Nếu cây hồ tiêu mà bị chết hay giá giảm mạnh liệu rằng bà con chúng ta lấy gì để làm nguồn thu nhập, cây hồ tiêu nếu bị dịch chết nhanh quá trình cải tạo đất trồn lại diễn ra thời gian rất lâu mới mạng lại hiệu quả tốt cho việc trồng mới bà con hãy suy nghĩ để tạo cho chúng ta sự chắc chắn khi quyết định.

Hiện nay, chúng ta đang ồ ạt ươm tiêu để cho một mùa vụ mới sang năm. Có ai đánh giá được rằng đây là nguyên nhân gây ra dịch hại trên cây hồ tiêu, là nguồn lây bệnh ban đầu và là sự thất bại đầu tiên mà bà con chúng ta chưa nhận ra. Chọn giống là một khâu rất quan trọng mà hình như bà con chúng ta, những cơ sở sản xuất giống được bà con tin tưởng đã bỏ qua khâu này.

Không biết giống được mua từ đâu? Tôi thấy những chiếc xe máy chở những bó tiêu lươn, tiêu ác xanh mướt được bứt từ khắp nơi mang và các cơ sở sản xuất giống cân ký và thanh toán tiền. Liệu rằng những mầm xanh này có mang trong mình nguồn gây bệnh để đợi một ngày cùng nhau bộc phát không? Bà con chúng ta có theo dõi được tình trạng vườn trước và sau khi chúng ta chọn giống không? hay các cơ sở sản xuất mua giống vầ có hỏi thông tin giống từ đâu, tình trạng vườn như thế nào, giống cây mẹ ra sao không? Và sau đó vườn tiêu mẹ còn sống hay đã chết? Hàng loạt các câu hỏi như vậy chúng ta cần chú ý không thì hậu quả khôn lường.

Nếu hồ tiêu chết ngay từ ban đầu chúng ta ít thiệt hại hơn khi tiêu đã phủ trụ và cho trái bói. Điều đặc biệt dòng tiêu chết nhanh thường diễn ra vào giai đoạn tiêu kinh tế cho nên gây thiệt hại rất lớn cho người tiêu dùng. Tiếp theo vấn đề xử lý giống ít được bà con quan tâm ngay từ giai đoạn ban đầu. “Mua giống về ươm cây nào sống thì trồng chết thì xen cây khác vô trong bầu đó” thật sự là những câu nói đầy chân thật của bà con chúng ta, nhưng bà con đâu biết được rằng mầm bệnh đang ẩn nấp trong huy vọng một vườn tiêu xanh mướt mang cho ta ngồn thu nhập cao. Vì vậy bà con chúng ta cần lựa chọn giống thật kĩ, sử lý giống trước khi trồng, theo dõi vườn giống chúng ta trong một thời gian dài để đưa ra quyết định cuối cùng sớm nhất.

Chúc bà con sức khỏe và thành công.


                                                                                                                                     Kỹ sư: V.V.T

6/1/15

Chelate là những hợp chất đặc biệt đối với các dưỡng chất. Sẽ là rất lý thú để tìm hiểu xem những chelate tạo thuận lợi như thế nào cho việc hấp thu các dưỡng chất mà nếu như không thì những dưỡng chất ấy sẽ rất khó tiêu đối với cây trồng.

Chelates là những hợp chất làm tăng thêm số lượng các dưỡng chất dễ tiêu cho cây trồng, đặc biệt là các chất vi lượng. Khi thiếu chelate trong dung dịch dinh dưỡng, cây trồng có thể sẽ bị thiếu các chất vi lượng then chốt, gây ức chế sinh trưởng trong những điều kiện bất thuận. Vì vậy người trồng trọt phải đảm bảo chắc chắn rằng những hợp chất này có trong dưỡng chất mà họ dùng để canh tác thủy canh.

Chữ “chelate” bắt nguồn từ chữ “chele” của Hy Lạp nghĩa là móng vuốt, một sự kết hợp mang tính thích ứng cao hơn bởi vì chelate hóa là một quá trình giống như sự nắm chặt và giữ lấy cái gì đó bằng móng vuốt. Vì vậy sẽ là rất lý thú để tìm hiểu xem những chelate tạo thuận lợi như thế nào cho việc hấp thu các dưỡng chất mà nếu như không thì những dưỡng chất ấy sẽ rất khó tiêu đối với cây trồng. rất nhiều nguyên tố vi lượng tích điện dương dạng ion trong dung dịch, trong khi những lỗ hoặc những đường mở trên rễ và lá cây tích điện âm. Những nguyên tố này vì vậy mà không thể vào được bên trong cây bởi sự dính chặt của điện tích âm và điện tích dương; với việc thêm một chelate, những nguyên tố dạng ion sẽ được bao bọc và điện tích dương biến thành điện tích âm hoặc đẳng điện, sẽ cho phép nguyên tố đó đi qua lỗ này vào trong cây trồng một cách dễ ràng.

Những chế phẩm chelate tổng hợp 

Hầu hết các loại phân bón thương mại đều bao gồm một hoặc nhiều chế phẩm chelate và các loại phân chất lượng cao đều hợp thành từ vài ba chế phẩm chelate như vậy. Chế phẩm chelate trong phân bón được xem như dấu hiệu bên cạnh những nguyên tố vi lượng mà chúng làm tăng tính dễ tiêu đối với cây trồng.

Nếu như dấu hiệu trên bao bì ghi chữ EDTA bên cạnh một số nguyên tố vi lượng, thì phân ấy có chứa Ethylenediaminetetraacetate, một chế phẩm chelate thông dụng nhất được sử dụng. Những loại phân cao cấp hơn còn có chứa DTPA, Diethylene triamine pentaacetate. Những loại phân chứa Ethylene diamine dihydroxy phenyl acetic acid, viết tắt là EDDHA là những loại phân có chất lượng cao nhất.

Những chelate thường có vài ba điểm để tác động vào, chúng bắt giữ những nguyên tố vi lượng. EDTA có 4 điểm kết nối, trong khi DTPA có 5 điểm, nhưng số lượng cao những điểm kết nối có thể không phải lúc nào cũng là tối ưu. Trong một số trường hợp, 4 điểm kết nối có thể giữ nguyên tố này quá chặt, trong khi ở những trạng thái khác những điểm kết nối ấy lại giữ không đủ chặt.

Khi cần nguyên tố đã được chelate hóa, cây trồng tháo gỡ nguyên tố đó, ví dụ như sắt, từ chelate, còn bản thân chelate thì không bị hấp thụ mà được đẩy trở lại dung dịch.

Hiệu lực của các nguyên tố được chelate hóa cũng lệ thuộc vào điều kiện pH môi trường dung dịch. EDTA có hiệu lực tốt nhất ở môi trường trung tính hoặc hơi chua trong khi DTPA có hiệu lực tốt nhất ở môi trường có pH cao. DTPA đắt hơn và ít tan hơn so với EDTA và thường thấy ở những loại phân có chất lượng cao hơn.

Những tác nhân chelate tổng hợp hiệu quả nhất là Etylene diamine dihydroxy phenyl aceticacid (EDDHA). Chúng chỉ được tìm thấy ở những công thức phân chọn lọc bởi giá cao tương ứng của nó. Nó đã và đang được khuyến cáo áp dụng cho những cây trồng có yêu cầu cao hơn, thậm trí cả trong những điều kiện đối kháng khi mà nguồn những ion đã được chelate hóa bởi EDDHA.

Trong những thí nghiệm trồng hoa cúc ở điều kiện hoàn toàn háo khí, một phần cây bị bệnh rễ do nấm pythium, chỉ có 4% số cây được cung cấp EDDHA vàng lá, trong khi 35% số cây được cung cấp DTPA bị vàng lá và 18% số cây được cung cấp HEDTA bị vàng lá. Mặt khác người ta thấy rằng những cây được cung cấp EDDHA huy động được lượng kẽm gấp 2 lần so với những cây được cung cấp HEDTA và DTPA.

Những chế phẩm chelate sinh học 

Ngoài những chế phẩm chelate tổng hợp ra, có những hợp chất, chúng xuất hiện một cách tự nhiên giống như acid fulvic với vai trò như những chế phẩm chelate tự nhiên. Cây trồng sinh trưởng một cách tự nhiên dựa vào acid fulvic và những chế phẩm chelate khác tìm thấy ngoài tự nhiên để có thể hấp thụ các nguyên tố vi lượng. Fulvic acid là kết quả của sự phân hủy chất hữu cơ thành mùn. Mùn đó được tác động bởi vi sinh tạo thành acid humic (C187H186O89N9S1). Acid humic ấy được chế biến tiếp tục bởi vi sinh để tạo thành acid fulvic (C135H182O95N5S2).

Giống như các chế phẩm chelate tổng hợp, acid fulvic hình thành 4 điểm kết nối với các nguyên tố mà nó chelate hóa, nhưng khác với những chế phẩm tổng hợp, nó có thể được hấp thụ vào bên trong cây trồng. Điều đó làm tăng thêm tính di động của dinh dưỡng trong cây. Những dưỡng chất được chelate hóa bởi fulvic acid có thể dịch chuyển tự do hơn chúng ngăn cản một số điều kiện (trạng thái) như sự thiếu canxi do bị cố định, chúng thường xảy ra đối với những dưỡng chất có tính di động thấp.

- Acid fulvic có thể hiệu quả nhất khi môi trường sinh trưởng ở vùng rễ cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng tối ưu. Khác với các chế phẩm chelate tổng hợp, acid fulvic duy trì hiệu lực của nó ở những điều kiện như độ pH cao hoặc thấp. Trong những điều kiện đối nghịch như vậy, những cây trồng được cung cấp acid fulvic được ghi nhận là không có biểu hiện xốc hoặc thiếu hụt, vv…so với những cây trồng được cung cấp những chế phẩm chelate tổng hợp. Acid fulvic còn tăng cường cải thiện tính lưu động của các dưỡng chất khác nhau trong mô thực vật. Điều này không giới hạn đối với các loại phân khoáng nhưng cũng giúp cải thiện khả năng vận chuyển của các dịch cây khác.

- Các aminoacid thì hình thành những phạm trù khác của các chế phẩm chelate sinh học. Aminoacid có thể chức năng giống như những chế phẩm chelate nhờ vào sự tích điện dương và âm của chúng; sự tích điện ấy có thể tác động như cực bắc và cực nam của một nam châm. Khi chelate hóa aminoacid hình thành 5 điểm kết nối với các nguyên tố khoáng.

Kết luận: 

Vì các chế phẩm chelate tăng khả năng hấp thu nhiều loại dưỡng chất sống còn đối với sự sinh trưởng khỏe mạnh của cây trồng, nên nhà nông cần tìm kiếm những dưỡng chất đáp ứng một dãy các hợp chất chelate. Điều này đảm bảo chắc chắn tính dễ tiêu của dinh dưỡng ở nhiều điều kiện khác nhau bao gồm cả những điều kiện trên hoặc dưới ngưỡng tối ưu.
Theo Cục trồng trọt

30/12/14

Dinh dưỡng cây trồng lấy đi từ đất để tạo sản phẩm không những chỉ có các chất đa lượng là đạm, lân, kali mà còn có cả các chất trung lượng như silic (Si), calcium (Ca), magnesium (Mg), lưu huỳnh (S) và các chất vi lượng thiết yếu như bo (B), kẽm (Zn), đồng (Cu) v.v.. Việc sử dụng nhiều phân đạm hóa học, bón phân không cân đối hoặc bón phân không đủ làm cho cây bị suy yếu, dễ bị sâu bệnh xâm nhiễm, đồng thời đất đai ngày càng thoái hóa, cằn cỗi.

Do đó, đồng thời với việc áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, bón kết hợp phân hữu cơ và vô cơ một cách hợp lý, bổ sung dưỡng chất trung, vi lượng và chất kích kháng nguồn gốc sinh học nhằm cung cấp đầy đủ, cân đối dưỡng chất giúp tăng sức đề kháng cho cây đối với sâu bệnh hại, điều kiện khó khăn về đất đai, thời tiết là những giải pháp hữu hiệu để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc canh tác cây trồng.




1. Ảnh hưởng của axit humic đối với dinh dưỡng cây trồng - giới thiệu sản phẩm phân bón hữu cơ giàu acid humic

1.1. Ảnh hưởng của axit humic đối với dinh dưỡng cây trồng
Thành phần và đặc điểm của chất hữu cơ đóng vai trò quyết định các tính chất lý, hóa, khả năng điều kiện dinh dưỡng và hấp phụ trao đổi của đất. Trong đất, chất hữu cơ tồn tại chủ yếu dưới dạng kết hợp với phần khoáng của đất. Chất mùn (humus) là sản phẩm cuối cùng của quá trình phân hủy chất hữu cơ. Chất mùn là nguồn dự trữ không những của các chất dinh dưỡng đa lượng như đạm, lân và kali mà còn là nguồn dự trữ của các dưỡng chất vi lượng. Chất mùn chứa các chất đường tan trong nước, amino acid, protein, lignin (thành phần cơ bản của vách tế bào), chất béo, carbon hydrate và acid humic. Trong đó, acid humic - một chất keo có cấu trúc km, tan trong kiềm, không tan trong nước - là nhóm quan trọng nhất và có hoạt tính hóa học cao nhất trong số các sản phẩm phân hủy của chất hữu cơ trong đất.

Các ảnh hưởng chính của axit humic đối với dinh dưỡng cây trồng gồm:
- Làm tăng khả năng trao đổi cation (CEC) của đất, giữ chất dinh dưỡng giúp ngăn ngừa sự rửa trôi chất dinh dưỡng ra khỏi vùng rễ, đồng thời có thể phóng thích chất dinh dưỡng ở dạng hữu dụng cho cây khi cần thiết, do đó làm tăng sự chuyển hóa phân bón, tăng sự hấp thu dưỡng chất vào cây.
- Giảm mức độ xói mịn đất do làm tăng lực kết dính của các phần tử nhỏ trong đất.
- Cải thiện đáng kể lý tính và thành phần cơ giới đất như: Cấu trúc, màu sắc, độ bền và khả năng giữ ẩm nhờ tăng hàm lượng chất hữu cơ. Cải thiện môi trường đất giúp cho sự phát triển của các nhóm vi sinh vật có ích trong đất, sự phát triển của bộ rễ cây.
- Tăng tính đệm cho đất, giúp cây có thể chịu đựng được sự thay đổi pH đột ngột.
- Giảm sốc (stress) cho cây trong các điều kiện bất lợi.
- Làm tăng sức nảy mầm của hạt giống.
- Hỗ trợ các quá trình trao đổi chất và các biến đổi hóa học trong tế bào sống của cây.
- Cung cấp nhiều loại auxin (chất kích thích sinh trưởng) cho cây.
- Đẩy nhanh tốc độ các phản ứng hóa học trong cây.
- Tạo môi trường làm ngăn chặn sự phát triển của một số loại cỏ dại.
- Làm giảm các độc chất hóa học trong đất do acid humic có khả năng phản ứng với một số loại thuốc bảo vệ thực vật làm cố định chúng hoặc có thể kết hợp với các hợp chất bền trong thuốc bảo vệ thực vật với cây trồng có thể hấp thụ được những phức hợp này.

2. Ảnh hưởng của một số dưỡng chất trung lượng và vi lượng đối với dinh dưỡng cây trồng
2.1. Vai trò của các dưỡng chất trung lượng silic, calcium và magnesium đối với dinh dưỡng cây trồng
2.1.1. Vai trò của silic

- Silic rất cần thiết đối với sự phát triển khỏe mạnh của nhiều loại cây trồng.
- Lớp silica và cutin có ý nghĩa rất lớn trong việc hạn chế sự thoát hơi nước không cần thiết qua lớp biểu bì (trong điều kiện khô hạn, mặn) cũng như tác dụng bảo vệ cây đối với sự xâm nhập của nấm bệnh, sâu rầy.
- Silic giúp cho lá mọc vươn thẳng, tạo điều kiện cho cây hấp thu ánh sáng tốt hơn, tăng khả năng quang hợp, tăng hiệu lực phân đạm.
- Tác dụng tương hỗ giữa silic với lượng (P) giúp cây hấp thu dinh dưỡng tốt hơn, cây tăng trưởng nhanh làm pha loãng nồng độ sắt, nhôm trong cây do đó làm tăng khả năng chống chịu phèn cho cây.
- Trong đất, silic có khả năng tạo phức với sắt, nhôm và mangan thành những hợp chất khó tan làm hạn chế sự thu hút các chất này vào trong cây, nhờ vậy cây tránh được tình trạng bị ngộ độc do hàm lượng sắt, nhôm và mangan quá cao (trong đất chua phèn), bộ rễ phát triển mạnh, giảm hiện tượng vàng lá, cháy lá do xì phèn.
- Bón Si vào đất làm tăng hàm lượng P dễ tiêu cho cây nhờ tác dụng làm giảm sự giữ chặt P trong đất, vì vậy giúp tăng sự thu hút P của cây.

2.1.2. Vai trò của calcium (Ca)- Calcium là thành phần quan trọng trong vách tế bào, giữ cho thành tế bào được vững chắc vì vậy calcium giúp cây tăng trưởng khỏe mạnh, hạn chế sâu bệnh.
- Calcium duy trì cân bằng anion-cation trong tế bo, trung hòa các acid hữu cơ trong cây vì vậy rau quả trở nên ngon ngọt hơn.
- Trong đất, calcium có khả năng trung hòa các acid hữu cơ giúp giải độc hữu cơ, giải độc phèn cho cây. Calcium làm tăng pH đất giúp giảm độc tố sắt, nhôm; làm đất tơi xốp, cải thiện tính thấm nước và thông thoáng nhờ đó cải thiện điều kiện phát triển của rễ, kích thích hoạt động của vi khuẩn, làm tăng khả năng hữu dụng của molipdent (Mo) và sự hấp thu các yếu tố dinh dưỡng khác.

2.1.3. Vai trò của magnesium (Mg)
- Trong cây, Mg kích thích hoạt động của nhiều enzyme. Là thành phần của diệp lục tố nên Mg đóng vai trị quan trọng trong việc đồng hóa carbonic (CO2) v tổng hợp protein.
- Mg giúp cây tăng trưởng nhanh, đẻ nhánh mạnh, hạn chế bệnh do nấm.
- Mg giúp cây thu hút được nhiều lân và các dưỡng chất khác.

2.2. Ảnh hưởng của các dưỡng chất vi lượng đối với dinh dưỡng cây trồng
2.2.1. Vai trò của kẽm
- Liên quan đến sự tổng hợp sinh học của acid indol acetic.
- Đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp acid nucleic và protein.
- Tăng cường khả năng sử dụng lân và đạm trong cây.
2.2.2. Vai trò của manganese (Mn)
- Xúc tác trong một số phản ứng men và sinh lý trong cây.
- Liên quan đến quá trình hô hấp của cây.
- Hoạt hóa các men liên quan đến sự chuyển hóa đạm và tổng hợp diệp lục tố.
- Kiểm soát oxy trong tế bào ở cây pha sáng và tối.
2.2.3. Vai trò của đồng (Cu)
- Là thành phần của men cytochrome oxydase và thành phần của nhiều men (oxidase, phenolase, lactase).
- Xc tiến quá trình hình thành vitamin A trong cây.
- Cần thiết cho quá trình quang hợp, còn liên quan đến sự sản xuất hạt.
2.2.4. Vai trò của boron (B)
- Tăng khả năng thấm ở màng tế bào, giúp vận chuyển hydrate carbon dễ dàng.
- Liên quan đến quá trình tổng hợp lignin.
- Thiết yếu đối với sự phân chia tế bào.
- Anh hưởng tới việc sử dụng Ca của cây trồng, gíup điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây.
2.2.5. Vai trò của Molypden (Mo)
- Xúc tiến quá trình cố định đạm, sử dụng đạm của cây và tổng hợp diệp lục tố.
- Là thành phần của men khử nitrate và men nitrogenase.
- Cần thiết cho vi khuẩn (Rhizobium) cố định đạm.

                                                                                                                     TS Trần Thị Tường Linh

25/12/14

 IPC dự báo sản lượng Hồ tiêu thế giới vụ 2015 khoảng 374.500 tấn, tăng 38.300 tấn (tăng chủ yếu tăng từ Ấn Độ, Indonesia và Sri Lanka) cộng tồn kho cuối năm 2014 chuyển sang 2015 khoảng 59.000 tấn. Như vậy tổng nguồn cung Hồ tiêu thế giới năm 2015 là 433.536 tấn, tăng 12.630 tấn so với năm 2014. Nhu cầu tiêu thụ khoảng 416.000 tấn. Do đó cân đối cung cầu Hồ tiêu năm 2015 có thể hài hòa hơn so với năm 2014;  Tuy nhiên giá  vẫn có thể duy trì ở mức cao.

Tình hình thị trường, giá cả tiêu Ấn Độ khá nhạy cảm với tiêu Việt Nam. Ấn Độ thu hoạch từ tháng 12/2014 đến tháng 2 /2015, sản lượng Ấn Độ dự báo  khoảng 70.000 tấn, tăng 33.000 tấnso với vụ 2014 (?) Ngày 22/12/2014, sàn giao dịch Kochin ra giá như sau: Tiêu xô 66.700Rs/tạ, với tỷ giá 63,23 RS/1USD sẽ tương ứng với 10.590 USD/tấn. Tiêu chọn: 69.700 Rs/tạ.Tháng 1/2015: 62.964 Rs/tạ. Tháng 2: 59.337 Rs/tạ. Tháng 3: 59.237 Rs/tạ. Tháng 4: 59.136 Rs/ tạ. Tháng 5 và 6:58.934 Rs/tạ.  Mức giá trên đây đã giảm nhiều so với những ngày trước.


Vụ tiêu 2015 của VN năng suất giảm mạnh trên tất cả các tỉnh. Thu hoạch rộ từ đầu tháng 2 đến tháng cuối tháng 4/2015. Vào thời giàn này, nhiều bà con nông dân trồng  tiêu cần bán hàng để thanh toán công nợ. Ngay từ bây giờ các nhà nhập khẩu đang và sẽ đưa ra nhiều chiêu gây nhiễu thông tin thị trường nhằm mua được giá rẻ và gom được nhiều tiêu từ VN ở thời điểm thu hoạch để sau đó chờ thời cơ thế giới khan hiếm hàng, bung ra kiếm lời ( giống như năm 2013, 2014). Mấy ngày qua giá tiêu trong nước đột ngột giảm 10-15.000 đ/kg nhưng thực tế tiêu trong dân hầu như đã hết, việc mua bán rất ít.


Trước diễn biến phức tạp của thị trường, giá cả,  mọi thông tin xuôi chiều, hay trái chiều, bà con nông dân và doanh nghiệp VN cần bình tĩnh, phân tích, tính toán trong việc bán, mua, lưu trữ  hàng, chủ động điều tiết lượng mua bán, xuất khẩu sao cho giá tốt nhất, hiệu quả nhất, nông dân và DN đồng lòng điều tiết lượng mua bán, XK, không bán ồ ạt với giá thấp, đẩy giá xuống, rơi vào bẫy các nhà nhập khẩu. Hạn chế hoặc không bán tiêu giấy, dễ dẫn đến thua lỗ . VN đã chiếm trên 50 % thị phần XK tiêu toàn thế giới, thì VN có đủ sức làm được việc này.

Theo VPA
Gs. Nguyễn Lân Hùng
Tôi vào Tây Nguyên mới thấy, bà con ta đua nhau trồng hồ tiêu. Nhiều nhà còn phá cả vườn cao su, vườn cà phê, vườn ca cao để trồng hồ tiêu. Nguyên nhân chính cũng vì vụ vừa qua, giá hồ tiêu có lúc lên tới trên 200.000 đồng/kg. Có lẽ, đó là vì hồ tiêu được giá nhất. Dân mình thường chạy theo giá. Đã có nhiều bài học đau xót khi gia đương cao lại sụt xuống thê thảm. Đây là việc mà bà con mình phải nghiêm túc nhìn nhận và thận trọng khi sản xuất không theo kế hoạch…

Mặt khác, rất nhiều gia đình bắt tay vào trồng hồ tiêu mà không chú ý tới các vấn đề kỹ thuật. Điều này còn nguy hại hơn vì rất có thể đến lúc sắp được thu hoạch thì chúng ta lại bị mất trắng. Đây cũng là sự thật mà ở rất nhiều nơi đã gặp phải.

Chúng ta biết rằng, khâu chuẩn bị trước khi trồng hồ tiêu rất quan trọng. Nếu làm không tốt khâu này, đôi khi chúng ta sẽ bị trả giá. Trên báo chí, trên truyền hình đã nhiều lần nêu những trang trại do không làm tốt khâu chuẩn bị từ đầu nên đã bị hủy hoại gần như toàn bộ vườn hồ tiêu…

Để trồng hồ tiêu, trước hết, chúng ta phải xác định vùng đất của mình có trồng được nó hay không. Đất trồng tiêu tốt nhất là đất đỏ bazan, đất phù sa mới bồi và đất đồi nhưng tơi xốp và phải thoát nước mới tốt. Tránh trồng nó trên đất cát khô, sét nặng, đất phèn hoặc đất bị úng ngập.

Có đất rồi thì khâu xử lý đất cũng phải làm rất nghiêm túc. Chúng ta biết rằng, kẻ thù nguy hại nhất ở hồ tiêu chính ta tuyến trùng. Tuyến trùng là loài giun tròn có kích thước rất nhỏ mà mắt ta không nhìn thấy được. Trong hàng nghìn loài tuyến trùng thì có tới hơn 20 loài phá hoại cây tiêu. Chúng thường xâm nhập vào cây rồi làm thành những u, bướu, ngăn các mạch dẫn ở rễ và làm chúng thối dần từ dưới lên, thâm đen từng đoạn rồi làm cây chết. Chúng có ngay trong đất. Gặp điều kiện thuận lợi là chúng tấn công ngay cây tiêu.

Vì vậy, ta phải xử lý đất thật tốt trước khi trồng. Ta dọn sạch cỏ, rác, đào hố, phơi đất. Sau đó, rắc mỗi hố nửa cân vôi hoặc phun dung dịch booc-đô để diện mầm bệnh. Ta dùng phân chuồng hoài mục bón cho mỗi hốc 10kg. Trộn đều đất mặt với phân rồi hãy đưa cây vào trồng. Tiêu cần ẩm nhưng rất sợ úng. Vì vậy, phải có rãnh thoát nước tốt để khi mưa rào, nước không bị ứ trên vườn.

Truyến trùng còn có thể lây lan qua đường cây giống. Ta không lấy cành ở các khu vực có bệnh để nhân giống. Khi cắt cành, ta cũng phải sát trùng dao, kéo vì tuyến trùng có thể qua đó xâm nhập mà cành giâm. Nó cũng có thể theo nước mưa mà xâm nhập vào các vườn tiêu chung bị hại.

Khi xới xáo đất, ta tránh làm đứt rễ tiêu. Vì vết đứt hay vết xây sát là chỗ để tuyến trùng xâm nhập vào cây…

Người ta có giới thiệu một số thuốc diệt tuyến trùng nhưng không đạt được như mong muốn. Nếu đã có cây bị bệnh thì ta phải diệt tận gốc: Đào bỏ toàn bộ cây (kể cả rễ) và đem đi xa tiêu hủy.

Trồng tiêu còn nhiều việc phải làm nhưng phòng chống tuyến trùng là việc đầu tiên mà bà con phải quan tâm.
Gs. Nguyễn Lân Hùng
Theo Báo Dân Việt
Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và bảo vệ thực vật (TT-BVTV), BR-VT được coi là "thủ phủ" của cây tiêu với tổng diện tích trồng hơn 8.000ha, đứng thứ 4 cả nước. Việc canh tác cây tiêu theo hướng an toàn cho người sử dụng và thân thiện với môi trường cũng đã phát triển và trở thành xu hướng mới của người trồng tiêu trên địa bàn tỉnh.
Người trồng tiêu đang chuyển hướng canh tác theo hướng bón phân hữu cơ, hạn chế dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu. Trong ảnh: Ông Nguyễn Hồng Quang (xã Bàu Chinh, huyện Châu Đức) kiểm tra vườn tiêu mới trồng được hơn 6 tháng, canh tác theo hướng tiêu sạch.
Theo đánh giá của Sở NN-PTNT, cây tiêu rất thích nghi với vùng đất BR-VT, hơn nữa, với giá liên tục tăng cao trong những năm qua, cây tiêu đã trở thành cây trồng hiệu quả của ngành nông nghiệp và làm giàu cho nhiều hộ trồng tiêu. Mô hình trồng tiêu sạch cũng đã hình thành nhằm hướng đến một nền nông nghiệp sạch và bền vững. Người trồng tiêu đã ý thức rằng, yêu cầu của thị trường, của người tiêu dùng ngày càng khắt khe với vấn đề an toàn thực phẩm.

Bà Trần Thị Yến, Phó Chi cục TT-BVTV cho biết, trong những năm gần đây, ngành hồ tiêu của tỉnh đã chủ động sản xuất theo hướng hữu cơ. Theo đó, trong 4 năm qua, trên địa bàn tỉnh đã triển khai cùng lúc 4 chương trình về sản xuất cây tiêu bền vững, chỉ dẫn nguồn gốc xuất xứ, xây dựng thương hiệu và Hội Hồ tiêu của tỉnh được thành lập. Cụ thể, Hội Nông dân huyện Châu Đức (địa phương có diện tích tiêu lớn nhất tỉnh với hơn 5.357ha, trong đó diện tích tiêu cho thu hoạch hơn 5.000ha) đang phối hợp với Hội Hồ tiêu tỉnh xây dựng mô hình trình diễn sản xuất tiêu sạch theo tiêu chuẩn VietGap tại 4 xã: Bàu Chinh, Sơn Bình, Láng Lớn và Quảng Thành. Theo Hội Hồ tiêu tỉnh, đây là một trong những bước chuẩn bị tiếp đón Hiệp hội Hồ tiêu thế giới đến khảo sát, đánh giá về tình hình sản xuất và chất lượng sản phẩm hồ tiêu. Tại các điểm trình diễn, cán bộ kỹ thuật của mô hình đã hướng dẫn người trồng tiêu sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh và thuốc bảo vệ thực vật từ dược liệu…. hiệu quả, an toàn cho người sản xuất và người sử dụng theo tiêu chuẩn VietGap. Cùng với xây dựng mô hình trình diễn, Hội Nông dân huyện và Hội Hồ tiêu tuyên truyền, vận động thành lập các tổ kiểm soát để trao đổi kinh nghiệm sản xuất, bảo quản.

Dẫn chúng tôi thăm vườn tiêu đang chuẩn bị vào vụ mới, anh Trần Văn Thắng, một nhà vườn tại huyện Châu Đức cho biết: Vườn tiêu này có diện tích hơn 1ha trồng từ năm 1996 bằng giống tiêu Vĩnh Linh, năng suất vụ trước đạt gần 2 tấn, giá bán 130.000 đồng/kg. Vụ tiêu 2013-2014 đạt gần 4 tấn và giá lên đến 190.000 đồng/kg, lợi nhuận cao gấp 3 lần so với năm trước. Ước tính vụ tiêu 2014-2015 đạt 4,5 tấn, nếu mức giá như hiện nay gia đình anh sẽ lãi ròng 300 triệu đồng. Lý giải về cây tiêu cho thu nhập cao, anh Thắng cho biết, ngoài giá hạt tiêu cao, cây tiêu không bị chết bệnh và nhờ được chăm sóc đúng quy trình nên cây tiêu sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất cao, sản phẩm an toàn cho người sử dụng.

Để hướng đến việc canh tác cây tiêu theo hướng bền vững, đáp ứng được yêu cầu của thị trường về an toàn thực phẩm, thời gian qua, Sở NN-PTNT đã phối hợp với Hội Nông dân các cấp và cơ quan liên quan khuyến cáo bà con nông dân canh tác theo hướng hữu cơ, hạn chế dùng phân hóa học, thuốc trừ sâu. Theo đó, Chi cục TT-BVTV đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ người trồng tiêu với chuyên đề "Canh tác cây tiêu bền vững theo hướng hữu cơ sinh học" nhằm thay đổi việc canh tác thường bón phân hóa học sang sử dụng phân hữu cơ kết hợp với các chế phẩm sinh học. Với những động thái này, ngành nông nghiệp BR-VT đang hướng đến mục tiêu: Sản phẩm hạt tiêu phải an toàn cho người sử dụng, được canh tác hữu cơ, có chứng chỉ chất lượng để vươn ra các thị trường tiềm năng.

Bài, ảnh: QUANG ĐẠT 
Theo Báo BRVT

16/12/14


Liên tiếp trong mấy ngày vừa qua, giá tiêu Ấn Độ sụt giảm do các hoạt động đều hạn chế, trong khi khách mua muốn chờ hàng vụ mới được chuyển đến nhiều hơn nữa, theo các nguồn tin thị trường cho biết trên Business Line.


Hôm qua, thứ Hai ngày 8/12, các báo cáo cho biết giá tiêu tiếp tục xu hướng giảm trước áp lực bán, mặc dù trên thị trường giao ngay đã không có bất kỳ lượng hàng nào được chuyển đến và các đường dây cung cấp cũng không có hàng.

Hôm cuối tuần, có khoảng 10 tấn tiêu từ huyện Wayanad của bang Kerala được chuyển đến và đã giao dịch với giá 685 Rupi/kg. Đồng thời, thương nhân trong nước có trụ sở tại Coorg (tên gọi khác của huyện Kodagu, bang Karnataka) đã chào bán hạt tiêu vụ mới giao tháng Ba với giá 535 – 550 Rupi/kg.

Các nguồn tin thị trường cho biết khách mua của thị trường tiêu dùng đã chậm mua lại do có dự đoán một lượng tiêu đáng kể bị cầm giữ trong kho từ năm ngoái sẽ được phát hành. Thông tin này cùng với báo cáo sản lượng của Kodagu sẽ tăng gấp đôi trong năm nay và việc bán hàng giao sau với giá 525 Rupi/kg đã kéo thị trường đi xuống.

Tuy vậy, trên Sàn Hiệp hội Gia vị IPSTA cả ba hợp đồng hoạt động vẫn không thay đổi. Cụ thể, hợp đồng tháng Giêng, tháng Hai và tháng Ba lần lượt ở 65.964 Rupi/tạ, 62.337 Rupi/tạ và 62.237 Rupi/tạ (tương đương 10.644 USD/tấn, 10.058 USD/tấn và 10.042 USD/tấn).

Trong khi giá tiêu giao ngay giảm 300 Rupi xuống ở mức 67.700 Rupi/tạ (tương đương 10.924 USD/tấn) cho loại tiêu xô và mức 70.700 Rupi/tạ (tương đương 11.408 USD/tấn) cho loại đã sơ chế.

Giá tiêu Ấn Độ xuất khẩu ở mức 11.825 USD/tấn (c&f) giao châu Âu và mức 12.125 USD/tấn (c&f) giao tại Mỹ.

* Theo báo cáo của ngành Nông nghiệp&PTNT Việt Nam, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 11/2014 ước đạt 6 nghìn tấn, với giá trị đạt 54 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 11 tháng đầu năm lên 151 nghìn tấn với giá trị 1,162 tỷ USD, tăng 18,1 % về khối lượng và tăng 35,7 % về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Giá tiêu xuất khẩu bình quân 10 tháng đầu năm 2014 đạt 7.625 USD/tấn, tăng 14,26 % so với cùng kỳ năm 2013. Hoa Kỳ, Singapore, Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất, Ấn Độ và Hà Lan là 5 thị trường lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2014, chiếm 50 % tổng xuất khẩu hồ tiêu.

*(Tỷ giá 1 USD = 61,9750 Rupi)


                                                                                                            Nguồn Anh Văn (Giacaphe.vn)
    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com