Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

29/7/14

Để có một nền sản xuất nông nghiệp bền vững, năng suất cây trồng luôn ổn định không những cho cây trồng cạn (rau cải, hoa, cây ăn trái, bắp, đậu . . .) mà còn cho cây trồng dưới nước (cây lúa . . .)
Về khía cạnh nông học có nhiều giải pháp, nhưng có lẽ thường xuyên hay định kỳ bón phân hữu cơ vào đất để duy trì chất hữu cơ trong đất (Soil Organic Matter, SOM) là một trong những giải pháp cần được quan tâm đầu tiên nhằm duy trì độ phì nhiêu của đất (soil fertility)

Chất hữu cơ trong đất trồng trọt ở Việt Nam nói chung mau bị mất đi do nhiệt độ cao, nắng nhiều, mưa nhiều nhưng phân bổ không đều (khí hậu nhiệt đới, nóng và ẩm).


Do đó, việc bón phân hữu cơ cho cây trồng hằng vụ, hằng năm là cần thiết. Hiện nay, trên thị trường có các loại phân hữu cơ như sau:

1. Phân hữu cơ truyền thống: có nguồn gốc từ động, thực vật như: phân trâu, bò, dê, gà, cút, vịt, phân bắc, phân rác sinh hoạt thành phố, nước giải, bùn cống ở thành phố và các loại phân xanh (cây, cỏ). Các thứ trên được ủ cho hoai mục. Phần lớn phân này trang trại, nông dân tự sản xuất.

2. Phân hữu cơ sinh học: được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có sự tham gia của vi sinh vật sống có ích hoặc các tác nhân sinh học khác như phân hữu cơ sinh học HA 1-5-1, . . .

3. Phân hữu cơ khóang: được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ, có trộn thêm một hay nhiều dinh dưỡng khoáng (N, P, K . . .) như phân hữu cơ khoáng HA 3-4-3, . . .

4. Phân hữu cơ vi sinh: được sản xuất từ nguyên liệu hữu cơ có chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật có ích như phân hữu cơ vi sinh HA 1-1,5, . . . có chứa 1.106 cfu/g vi sinh vật cố định đạm.
Các loại phân (2), (3), (4) có chất hữu cơ nền (chất mang, carrier) phần lớn là đất than bùn (peat) đã được hoạt hóa.

5. Phân bón có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng: là loại phân bón vô cơ hay hữu cơ được bổ sung một lượng nhỏ các vitamin, các enzim, các axit hữu cơ, hoặc các chất hóa học có tác dụng điều hòa sinh trưởng cây trồng như Roots 2, . . .

6. Phân bón lá có chứa axit humic, axit fulvic
Chất hữu cơ trong đất gồm có: (1) vi sinh vật sống, (2) chất thải hữu cơ chưa phân hủy, (3) chất hữu cơ đã phân hủy, (4) chất hữu cơ (humus). Humus gồm: chất humic (humic substances) và chất không là humic (nonhumic substances). Chất humic là thành phần quan trọng nhất của chất hữu cơ trong đất. Bằng cách hoạt hóa chất hữu cơ trong đất, đã ly trích chất humic thành 2 loại: axit humic và axit fulvic, hai loại axit này được áp dụng nhiều trên cây trồng qua ngâm hạt giống, ngâm hom giống, ngâm rễ cây giống, tưới xuống đất hay phun qua lá. Hiện nay, vì lý do kinh tế và tiện lợi nên trên thị trường có nhiều loại phân hữu cơ bón la có chứa 2 loại axit trên như: K-Humate, Risopla II, Bioking-K (HC: 74,1 (axit Fulvic + axit Humic: 70) hay các loại phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ khoáng có chứa axit humic như Risopla V. Hai loại axit này phần lớn được ly trích từ đất than bùn (peat) hay từ than (coal).

Tuy nhiên, cũng đừng quên rằng rễ cây trong đất cũng góp phần quan trọng cho chất hữu cơ trong đất. Ngoài ra, việc che phủ mặt đất bằng rơm rạ, cỏ khô, lá cây khô, cây họ đậu bò che phủ không những giảm sự xói mòn đất, giảm sự rửa trôi. Hậu quả sẽ làm giảm sự mất chất hữu cơ trong đất mà sau một thời gian chúng hoai mục đi sẽ cung cấp chất hữu cơ cho đất. Rất tiếc, vì nhiều lý do khác nhau phần lớn các líp rau cải, hành . . . như ở huyện Châu thành, các líp khóm ở huyện Tân phước, và một số vườn cây ăn trái tỉnh Tiền giang lại không được tủ rơm rạ.

Tóm lại, hai chất chủ yếu của chất hữu cơ trong đất (SOM) là axit humic và axit fulvic. Hai axit này đã được ly trích từ than bùn (peat) hay than (coal) bằng những công nghệ tiên tiến. Hai axit này đã được sử dụng và bán rộng rãi ở Việt Nam như K-humate, Risopla II, Bioking-K . . . bằng cách phun qua lá hay rãi, tưới xuống đất không những cho cây lúa (cây dưới nước) mà cả cho cây trồng cạn. Ap dụng axit humic và axit fulvic cho cây trồng là một trong những phương phápbón phân hữu cơ cho đất.

Hy vọng rằng bằng biện pháp phối hợp giữa kỹ thuật canh tác hợp lý nhằm giảm sự mất chất hữu cơ trong đất và tùy điều kiện cần bón những loại phân hữu cơ kể trên định kỳ để duy trì độ phì nhiêu của đất, giữ vững năng suất cây trồng hầu từng bước có một nền nông nghiệp xanh và bền vững trong điều kiện thâm canh, tăng vụ, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm.

KS Đỗ văn Chuông
Cty BVTV SG
Vôi là gì ?

Trong tiếng Việt vôi là ôxít canxi CaO hoặc Hidrôxit canxi Ca(OH)2.
Trong nông nghiệp vôi dùng để bón ruộng ở dạng Ca(OH)2  (vôi tôi, vôi hả, vôi bột …).

Tác dụng của vôi

    Cung cấp canxi cho cây trồng : Canxi là 1 trong 4 chất trung lượng cần thiết cho cây trồng. Ngoài vôi bà con có thể dùng canxi nitrat Ca(NO3)2 hoặc lân nung chảy. Không nên dùng bột đá, bột vỏ sò CaCO3 hay thạch cao CaSO4+2H2O như 1 số tài liệu khuyến cáo (những chất này không tan trong nước, thậm chí còn có hại cho cây trồng).

    Chống chua đất : Đất chua là đất có dư lượng axít, độ pH nhỏ hơn 7. Hầu hết đất canh tác nông nghiệp đều chua. Tùy theo loại cây trồng mà độ chua hợp lý sẽ khác nhau (với cà phê hợp lý là độ pH từ 5,5 đến 6,5). Khi độ pH xuống dưới mức hợp lý thì phải chống chua và thứ rẻ nhất để làm việc này là vôi.

Tác hại của vôi

Ngoài 2 tác dụng kể trên, vôi cũng có nhiều tác hại.

    Làm chai đất : Đất chua có nhiều nguyên nhân (chua vì dư thừa axít do bón phân hóa học nhất là các lọai phân sunphát ; chua do các vi sinh vật thải ra ; chua do rẽ cây tiết ra trong quá trình hấp thu dinh dưỡng). Khi bón các lọai phân sunphat quá nhiều sẽ tạo ra dư lượng chất axit sunphuric H2SO4 làm chua đất, sau đó lại dùng vôi để khử chua nên sẽ có phản ứng hóa học sau : Ca(OH)2 +H2SO4 = CaSO4 +2H2O, tức tạo ra “thạch cao “gây ra hiện tượng chai đất và bó rễ cây. Hiện tượng chai đất còn do nhiều nguyên nhân khác nhưng ở đây chỉ nói về vôi.

    Tiêu diệt các vi sinh vật có lợi (lẫn có hại) cho đất : Trong đất có rất nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, khi bón vôi sẽ tiêu diệt chúng (các vi sinh vật mắt thường không nhìn thấy nhưng bà con sẽ thấy khi bón vôi như con giun đất chết liền khi gặp vôi).

    Làm mất chất dinh dưỡng :

-Vôi khi gặp các lọai phân bón chứa nitơ (N) sẽ làm mất nitơ , khi gặp lân (P2O5) sẽ biến lân thành quặng phosphat khiến cây không hấp thu được. Hầu hết các lọai phân vô cơ như Urê, SA, NPK, DAP, Lân…đều kỵ vôi .
-Trong phân hữu cơ có nguồn gốc từ phân động vật hay than bùn …chứa 1 chất rất quan trọng là Axit humic (đây là chất cực quý với tất cả các lọai cây trồng ). Axit humic rất rễ tan. Nếu ở dạng humat kali, humat natri, humat amôni thì càng tốt. Nhưng khi trộn với vôi sẽ tạo thành humat canxi là chất không tan trong nước và cây không hấp thu được.
-Vôi còn rất nhiều tác hại khác nhưng đây là Y5Cafe, là diễn đàn của bà con nông dân nên chỉ xin viết những gì đơn giản nhất, phù hợp với kiến thức phổ thông để bà con dễ dàng tiếp nhận.

Dùng vôi sao cho đúng ?

Vôi vừa có tác dụng vừa có tác hại, vậy phải dùng như thế nào? Câu trả lời ngắn gọn là dùng sao cho có lợi nhiều nhất và có hại ít nhất.

    Chỉ dùng vôi khi đất bị chua : Tức là chỉ dùng cho mục đích chống chua. Không nên dùng cho mục đích cung cấp canxi. Nên sử dụng các chất để thay thế vôi như đã viết ở trên.

    Phải bón riêng rẽ : Khi bón vôi bà con không nên trộn với bất kỳ lọai phân gì. Để tránh tác hại nên bón sau thu họach (bón sau đợt bón phân cuối cùng của vụ trước ít nhất 15 ngày và bón trước đợt bón phân của vụ sau ít nhất 15 ngày). Với cà phê thời điểm hiện nay bón vôi là hợp lý và thay vì 15 ngày nên là 30 ngày.

Nguồn: Internet

25/7/14

Đã 8 năm nay, Việt Nam trở thành quốc gia sản xuất và xuất khẩu tiêu lớn nhất thế giới, nhưng khâu chế biến và thương mại phải qua nhiều nước trung gian như Ấn Độ, Singapore… Hiệp hội Hồ tiêu thế giới (IPC) vừa mới đề nghị chuyển trụ sở từ Indonesia sang nước ta, vì nhận định Việt Nam không chỉ là quốc gia sản xuất tiêu lớn nhất thế giới mà sẽ trở thành trung tâm chế biến, thương mại của toàn ngành hồ tiêu thế giới trong tương lai.

Kỷ lục mới về giá bán

Tuần qua, giá tiêu xác lập kỷ lục mới khi cán mốc 182.000 -190.000 đồng/kg, thực sự gây “choáng” trên thị trường tiêu nội địa Việt Nam.

Từ trước tới nay, chưa có bất kỳ loại nông sản nào đạt được sự tăng giá ngoạn mục như vậy. Năm 2007, nông dân bán tiêu với giá khoảng 30.000 đồng/kg, đến 2008 là 50.000 đồng/kg, năm 2010 lên 80.000 đồng/kg và 2 năm qua dao động ở mức 120.000 đồng/kg. Những tháng đầu năm 2014, có lúc thương lái thu mua tiêu tại vườn với giá 145.000 đồng/kg, nằm ngoài sự kỳ vọng của nông dân. Thế nhưng bất ngờ hơn cả, từ đầu tháng 7/2014, giá tiêu vọt lên chóng mặt, đạt ngưỡng 190.000 đồng/kg và đến ngày 19/7 dao động ở mức 182.000 -185.000 đồng/kg.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA), nhận định: “Quy luật giá cả lên xuống theo chu kỳ vài năm của hồ tiêu gần như đã bị phá vỡ khi chính nông dân là người tạm trữ và điều tiết bán ra. Khoảng 6 năm nay, hồ tiêu Việt Nam ngày càng thể hiện vai trò dẫn dắt thị trường thế giới về giá nên hầu như không có biến động sụt giảm”. Năng suất thu hoạch tiêu đạt bình quân 4 tấn/ha (nhiều hộ trồng tốt đạt tới 7-8 tấn/ha), với giá bán thời điểm này, trừ chi phí đầu tư khoảng 100 triệu đồng/ha, người trồng còn lãi ròng khoảng 580 triệu đồng/ha.

Theo Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2014, sản lượng tiêu cả nước đạt khoảng 130.000 tấn. Trong 6 tháng đầu năm, nước ta đã XK 111.000 tấn tiêu, thu về 790 triệu USD, tăng 36,2% về khối lượng và tăng 47,8% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Dự báo, tổng lượng XK năm 2014 đạt khoảng 150.000 tấn (gồm cả tiêu dự trữ từ năm ngoái và tạm nhập tái xuất), ngành hàng tiêu sẽ lần đầu tiên tham gia vào câu lạc bộ nhóm hàng nông sản XK 1 tỷ USD.

Tuy dẫn dắt thị trường thế giới nhưng có một thực tế là giá hồ tiêu Việt Nam vẫn luôn thấp hơn giá tiêu của Ấn Độ, Brazil, Malaysia… Tại thị trường Ấn Độ trong tuần qua, trên thị trường giao ngay, giá tiêu xô đạt 72.000 rupi/tạ (tương đương 12.022 USD/tấn) và 74.500 rupi/tạ (tương đương 12.440 USD/tấn) cho loại đã sơ chế. Như vậy, giá tiêu xô ở Ấn Độ quy đổi ra tiền Việt Nam là 245.000 đồng/kg, cao hơn 65.000 đồng/kg so với giá tiêu tại thị trường Việt Nam.

Giá tiêu đặc chủng MG1 của Ấn Độ XK có giá 12.750 USD/tấn cho hàng giao châu Âu và 13.000 USD/tấn cho hàng đi Mỹ. Trong khi đó, giá tiêu đen XK của Việt Nam hiện đạt bình quân 7.350 USD/tấn, tiêu trắng đang ở mức 9.300 - 9.500 USD/tấn. Lý giải về việc này, ông Nam cho biết, tiêu XK do Ấn Độ, Brazil sản xuất đạt tiêu chuẩn ASTA (khử trùng theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc tế của Mỹ) nên giá cao hơn, còn Việt Nam vẫn xử lý bằng hơi nước. Thị trường XK ngày càng yêu cầu sản phẩm phải sạch, được canh tác hữu cơ, có chứng chỉ chất lượng. Vì vậy, ngay từ bây giờ, người trồng và chế biến hồ tiêu nước ta cần triển khai các giải pháp phù hợp, sản xuất theo quy trình GAP, nông dân nên chuyển sang hướng trồng tiêu hữu cơ, hạn chế dùng phân, thuốc hóa học.

Cơ hội giành vị thế toàn diện


Trên thế giới có 2 quốc gia được coi là trung tâm chế biến và thương mại tiêu là Singapore và Ấn Độ. Vì giá bán cao nên tiêu Ấn Độ khó cạnh tranh được trên thị trường quốc tế, mặt khác do sản lượng thấp nên Ấn Độ đang mất dần vị thế trung tâm thương mại tiêu thế giới. Tính đến hết tháng 6, Ấn Độ mới chỉ XK được khoảng 6.000 tấn tiêu, trong khi Việt Nam đã xuất 111.000 tấn. Suốt những năm 1990, Singapore chiếm ưu thế trong giao dịch hồ tiêu với lượng nhập khẩu lớn, lên đến 44.000 tấn/năm, trong đó Indonesia là nguồn cung cấp chính với 50% lượng nhập. Nhưng sau đó thương mại hồ tiêu Singapore đã sụt giảm mạnh, hiện chỉ còn 10.000 tấn/năm, nguyên nhân chủ yếu là do các nhà nhập khẩu đã mua hàng trực tiếp từ các nước sản xuất, nhất là Việt Nam. Những năm trước đây, tiêu Việt Nam thường phải xuất qua các thị trường trung gian là Ấn Độ và Singapore rồi mới đến các nước tiêu dùng. Nhưng hiện nay, thị phần XK hồ tiêu Việt Nam vào châu Âu chiếm 34%, châu Á 36%, châu Mỹ 20% và châu Phi 10%. Những thị trường có mức tăng trưởng nhập khẩu cao về tiêu Việt Nam thời gian gần đây là Pakistan, Thái Lan, Malaysia, Pháp, Cô-oét và Indonesia.

Mới đây, ông Kannan, Giám đốc điều hành IPC đã chính thức đề nghị chuyển trụ sở từ Indonesia sang nước ta bởi vị thế và vai trò của hồ tiêu Việt Nam ngày càng có nhiều ảnh hưởng trên thị trường quốc tế. Theo IPC, với sản xuất và thương mại hồ tiêu toàn cầu như hiện nay, có thể dự báo năm 2015 và đến năm 2020, hồ tiêu Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng và lợi thế cạnh tranh với các nước cả về năng suất và giá thành, nhất là với Indonesia và Brazil, những quốc gia từng có sản lượng cao nhất thế giới trước khi Việt Nam nổi lên chiếm lĩnh. Ông Kannan nhận định: “Từ chỗ chưa có chỗ đứng và thường bị các nhà đầu cơ chi phối giá cả, đến nay vị thế hồ tiêu Việt Nam ngày càng vững vàng trên thương trường quốc tế. Dù trong hoàn cảnh nào, Việt Nam vẫn là quốc gia sản xuất và XK hồ tiêu lớn nhất thế giới”.

Theo ông Nam, dù có bước đi khá căn cơ nhưng hồ tiêu Việt Nam vẫn chưa thể hoàn toàn thoát ra khỏi thực trạng chung của các ngành hàng nông sản xuất khẩu khác, đó là việc xuất thô vẫn còn chiếm tỷ lệ rất cao. Nếu đầu tư chế biến sâu thì giá trị gia tăng còn lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, VPA đề ra 3 hướng đi mà ngành hồ tiêu cần thực hiện thời gian tới. Đó là, các doanh nghiệp cần có chiến lược và quyết tâm chuyển dần tỷ lệ XK tiêu đen sang XK tiêu trắng vì chênh lệch giá trị giữa 2 loại tiêu này lên tới 70%. Hướng đi thứ hai là cần gia tăng sản xuất tiêu ASTA (theo tiêu chuẩn của Mỹ). Hiện tỷ lệ tiêu ASTA của Việt Nam xuất khẩu sang các nước Âu, Mỹ chỉ chiếm khoảng 15%. Việc cần làm là VPA cũng như bản thân mỗi doanh nghiệp phải tích cực hơn trong việc xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường để có thể nâng cao xuất khẩu mặt hàng tiêu ASTA. Hướng thứ ba, khó khăn hơn nhưng VPA cho rằng, không thể không làm là cần đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng tiêu bột. Không ít doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam chế biến tiêu bột rất thành công. Họ còn nhập khẩu cả tiêu đen các nước vào chế biến tại Việt Nam rồi tái xuất để cung cấp cho nhiều siêu thị trên thế giới.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT vừa phê duyệt quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm tăng năng suất và giá trị ngành hồ tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường.

Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì ổn định ở mức 50.000ha, sản lượng 140.000 tấn và sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%.

Về cơ cấu sản phẩm, tiêu đen chiếm 70% (trong đó tiêu nghiền bột 15%), tiêu trắng 30% (tiêu nghiền bột khoảng 25%) và kim ngạch XK đạt 1,2-1,3 tỷ USD.

Chu Khôi
Theo Kinh Tế Nông Thôn
Chiều 24-7, tại Hội trường huyện Chư Prông, Ban Vận động thành lập Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản huyện Chư Prông tổ chức Đại hội đại biểu thành lập Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản Chư Prông lần thứ I, nhiệm kỳ 2014-2019. Tham dự có lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện Chư Prông, Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản các huyện Chư Sê, Chư Pưh cùng hàng trăm hộ trồng tiêu trên địa bàn huyện.
Ảnh: Nguyễn Diệp
Thống kê của cơ quan chuyên môn, toàn huyện Chư Prông hiện có 2.406 ha hồ tiêu, trong đó diện tích tiêu đang kinh doanh trên 1.600 ha phân bổ ở 16 xã, thị trấn. Năng suất bình quân 36 tạ/ha, sản lượng hàng năm đạt trên 5.800 tấn. Ngoài ra huyện Chư Prông còn nhiều hàng nông sản khác như cao su 34.084 ha, cà phê 13.300 ha…

Tại Đại hội lần này nông dân đã thông qua điều lệ, phương hướng hoạt động của Hiệp hội từ nay đến năm 2019. Bầu ra Ban Chấp hành của Hiệp hội gồm 28 người. Ông Từ Ngọc Thông-Phó Chủ tịch UBND huyện được bầu vào vị trí Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản Chư Prông.

Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản Chư Prông được thành lập sẽ góp phần giúp người dân ổn định sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ mặt hàng tiêu và nông sản khác theo hướng bền vững. Đây cũng là Hiệp hội Hồ tiêu-Nông sản thứ 3 trên địa bàn tỉnh được thành lập.

Nguyễn Diệp
Theo Gia Lai Online
Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, ba năm trở lại đây, cây tiêu có mức tăng trưởng mạnh nhất trong số các mặt hàng nông sản.

Hình minh hoạ
Ngày 24/7, giá tiêu trên thị trường Chư Sê (Gia Lai) tiếp tục tăng thêm 1.000 đồng so với hôm qua lên 185.000 đồng/kg, tại thị trường Châu Đức (Bà Rịa) đứng giá 190.000 đồng/kg. Còn tại thị trường Đắk Lăk - Đắk Nông là 185.000 đồng/kg, tăng 1.000 đồng, tại thị trường Bình Phước tăng lên 187.000 đồng/kg, tăng 2.000 đồng.

Theo báo cáo của của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tuần từ 7 đến 11/7, giá hồ tiêu thu mua tại địa phương, theo xu hướng tăng giá từ đầu năm tới nay, đã tăng 5% so với giá trung bình tuần trước đạt hơn 173.200 đồng/kg. Giá xuất khẩu đồng thời cũng tăng từ 12.500 USD/tấn (C&F Châu Âu) và 12.750 USD/tấn (C&F Mỹ) lên 12.750 USD/tấn (C&F Châu Âu) và 13.000 USD/tấn (C&F Mỹ).

Theo Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam, ba năm trở lại đây, cây tiêu có mức tăng trưởng mạnh nhất trong số các mặt hàng nông sản, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2014, hồ tiêu xuất khẩu đạt 111.000 tấn mang lại 790 triệu đô-la Mỹ, tăng 36,2% về khối lượng và tăng 47,8% về giá trị. Giá tiêu 3 năm gần đây luôn duy trì ở mức 150.000 đồng/kg, thậm chí có thời điểm đạt trên 200.000 đồng/kg.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn đứng đầu về về xuất khẩu hồ tiêu. Dự kiến, năm nay, Việt Nam sẽ xuất khẩu 150.000 tấn hồ tiêu các loại, đạt kim ngạch 1 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Nguồn: Cục chế biến NLTS và Nghề Muối

24/7/14

Chỉ trong 23 ngày tháng 7/2014 các kỷ lục về giá tiêu trong nước liên tục được thiết lập mới: Hạt tiêu đen đầu giá (dung trọng 500gr/lít, thủy phần 15%, tạp chất 1%) nông dân trồng tiêu tại các tỉnh Tây nguyên bán cho thương lái ngày 1/7đồng loạt chạm mốc 170.000 đ/kg, các tỉnh miền Động 171.000 đ/kg. Đến ngày 18/7 theo đó lên 180.000 – 181.000 đ/kg. Và đến ngày 23/7 tăng vọt lên 189.000 – 190.000 đ/kg.

    
    Tháng:                                  T1      T2      T3       T4       T5      T6       T7
    Tiêu đen (1.000đ/kg) :          149     127    125     138     148    158      190

    Cùng kỳ 2013 :                    121    120    120     118      119    120      120

    2014/2013 Tăng :                 +28      +7     +5     +20     +29    +38     +70.

6 tháng đầu năm 2014 Việt nam đã xuất khẩu:

•         Tổng số :                   111.395 tấn. So cùng kỳ năm 2013 tăng 35,16%

•         Tổng kim ngạch:        797 triệu USD. So cùng kỳ năm 2013 tăng 47,6%

•         Giá bình quân tiêu đen 6.885 USD/tấn, tiêu trắng 9.716 USD/tấn.

•         So cùng kỳ năm 2013 giá tiêu đen tăng 11,4%, tiêu trắng tăng 9,6%.

Lượng tiêu hiện nay còn lại trong vụ thu hoạch vụ 2014 khá hạn hẹp, phần lớn trong các hộ khá giả. Tiêu được phơi khô kiệt, quạt sạch sẽ, kê cao gác kỹ… nên dung trọng, tạp chất, thủy phần đạt mức lý tưởng, nên nay bà con bán xoay quanh mức 200.000 đ/kg.  Họ bán nhỏ dọt, thích thì bán, càng góp phần đẩy giá lên cao.


Giá tiêu thị trường thế giới tăng , kéo giá trong nước tăng theo. Tổng quan thị trường hồ tiêu toàn cầu, theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC): Nguyên nhân chính giá tăng là do: Năm nay tổng nguồn cung bao gồm sản lượng thu hoạch cộng với lượng tồn kho giảm, không đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng so với năm trước.

Theo VPA

23/7/14

Hồ tiêu được xem là một trong những nông sản chủ lực của một số vùng trọng điểm trên địa bàn tỉnh. Với giá tiêu đang ở mức cao như hiện nay, cây tiêu vẫn thu hút sự đầu tư không ít thời gian, công sức của không ít hộ nông dân. Tuy nhiên tiêu là loại cây khó tính, chính vì vậy, làm thế nào để chăm sóc và bảo vệ cây trong mùa mưa vẫn luôn là mối quan tâm đặc biệt của hầu hết bà con nông dân.
Ông Vũ Văn Viễn-chăm sóc vườn tiêu.
Đây là 2 trong số nhiều trụ tiêu của gia đình ông Vũ Văn Viễn ở thôn Tứ Kỳ Nam, xã Ia Blá, huyện Chư Sê mắc bệnh rụng lá, thối rễ vừa được cứu sống. Theo ông Viễn thì tháng 3 vừa rồi, chỉ sau vài trận mưa lớn và nắng lên đột ngột vườn tiêu của ông đột nhiên có hiện tượng cây bị đỏ cuống, rụng lá sau đó cây chết hàng loạt.

“Cây tiêu này tưởng đã chết rồi nhưng nhờ sử dụng phân bón Địa Long nên mới cứu được cây. Trong vườn cũng có nhiều trụ bị như thế nhưng sau khi nghe khuyến cáo, tôi đã bón phân kịp thời nên không bị lây lan. Cây tiêu là loại cây trồng chủ lực của gia đình nên chúng tôi rất lo lắng nếu bị sâu bệnh hay bị chết hàng loạt…’.Ông Viễn chia sẻ.

Hiện tại, xã Ia Blá, huyện Chư Sê có khoảng 600ha tiêu đang trong thời kỳ thu hoạch. Cũng không nằm ngoài quy luật, sau những đợt cho ra trái và giúp những mùa vàng bội thu cho bà con nông dân, chuẩn bị bước vào mùa mưa năm nay, nhiều trụ tiêu bị rơi vào tình trạng rụng lá và chết rất nhanh. Thậm chí nhiều trụ tiêu đang xanh tốt cũng bị chết chỉ trong vòng từ 3-5 ngày. Căn bệnh này, nhiều bà con gọi là bệnh tiêu điên.

Trao đổi với Ông Hoàng Phước Bính – Tổng thư ký hiệp hội hồ tiêu Chư Sê về vấn đề nêu trên, ông Bính cho biết thêm: "Chư Sê có diện tích tiêu lớn nhất tỉnh. Mặc dù được giá, được mùa trong nhiều năm nhưng một trong những vấn đề mà bà con nông dân rất quan tâm đó là tiêu bị bệnh, thậm chí bị chết hàng loạt…”.

Qua thống kê chưa đầy đủ, toàn huyện Chư Sê có khoảng 2.500ha hồ tiêu và diện tích này vẫn đang tiếp tục được gia tăng. Do lợi nhuận của hồ tiêu lớn nên nhiều người đổ xô đi trồng mặc dù chưa nắm đầy đủ kiến thức, kỹ thuật về loại cây khó tính này. Bên cạnh đó, việc khai thác quá lâu trên cùng một diện tích và sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, không đúng quy trình cũng khiến cây kiệt sức và dẫn đến hiện tượng tiêu chết nhanh chóng và chết trên diện rộng.

“Cây tiêu là cây trồng chủ lực của nhiều nông dân ở đây. Nhưng người nông dân chúng tôi không biết sử dụng phân bón như thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất. Chính vì thế, chúng tôi rất mong các nhà khoa học có sự đầu tư nhiều hơn nữa cho các vùng chuyên canh như thế này…” Ông Hà Công Hiền – Xã Ia Blá – Chư Sê đề nghị.

Trước đây, khi trồng tiêu và nhiều loại nông sản khác, bà con nông dân sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo kinh nghiệm và sự giới thiệu của người đi trước. Nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản nhất của việc chăm sóc cây đó chính là cần phải kiểm tra độ PH của đất, xem xét việc thiếu và thừa các vi chất chất dinh dưỡng trong đất thì lại ít được nông dân chú trọng. Theo kỹ sư Dương Hùng Đỗ, người trực tiếp cứu nhiều trụ tiêu mắc bệnh ở Chư Sê trong thời gian qua cho rằng; Sở dĩ ông có thể cứu được những trụ tiêu bị chết là ông sử dụng phân bón bổ sung các khoáng chất cho đất, tạo ra tính vật lý của đất khiến đất có kết cấu bền vững, tạo độ tơi xốp. Đây là chất hữu cơ vi sinh tăng chất đề kháng cho đất, lọc phèn, lọc mặn, kích thích bộ rễ phát triển, giúp cây có khả năng hấp thụ tốt chất dinh dưỡng trong đất.

Ông Dương Hùng Đỗ - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Khai thác khoáng sản và xây dựng Miền Nam khuyến cáo: “ Để cây tiêu phát triển tốt thì cần phải tìm hiểu kỹ đặc tính của đất cũng như cây trồng. Ví dụ đất đang trồng tiêu thiếu Phốt pho, sắt, Magiê thì nên bổ sung chất ấy cho đất. Có như vậy, cây tiêu mới có thể phát triển tốt, hài hòa và ít sâu bệnh. Trong khi đó nhiều bà con nông dân lại trồng theo kinh nghiệm chứ ít có điều kiện tìm hiểu và để ý điều kinh sinh trưởng của cây theo đúng phương pháp khoa học. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cây tiêu chết nhanh, chết nhiều…”.

Đầu tư theo quy mô và và có chiều sâu là điều đáng làm đối với các mặt hàng nông sản, nhất là nông sản chất lượng cao như hồ tiêu. Nhưng làm thế nào để chăm sóc và bảo vệ cây trồng trước sâu bệnh, trước những biến đổi thất thường của thời tiết là điều mà các hộ nông dân cũng như các ngành chức năng cần đặc biệt quan tâm./.
Thu Thuỷ - Minh Trí
Theo Đài Phát Thanh Truyền Hình Gia Lai

20/7/14


Lũy tiến từ 1/1 đến hết ngày 30/6/2014, Việt Nam đã xuất khẩu được 111.395 tấn Hồ tiêu các loại, bao gồm 100.820 tấn tiêu đen và 10.575 tấn tiêu trắng. Tổng giá trị xuất khẩu đạt 797 triệu USD, tiêu đen đạt 694 triệu USD, tiêu trắng đạt 103 triệu USD. So cùng kỳ 6 tháng 2013, lượng xuất khẩu tăng 35,16% tương đương 28.977 tấn, riêng tiêu đen tăng 42,19% tương đương 29.914 tấn, tiêu trắng giảm 937 tấn.

Về kim ngạch xuất khẩu đánh dấu mức tăng trưởng mạnh so với cùng kỳ khi kim ngạch xuất khẩu tăng 47,55% tương đương 257 triệu USD.

Giá xuất khẩu bình quân tiêu đen 6 tháng đạt 6.885 USD/tấn, tiêu trắng đạt 9.716 USD/tấn, mức tăng tương ứng lần lượt là 707 USD đối với tiêu đen và 851 USD đối với tiêu trắng so cùng kỳ 2013.

 Theo VPA
Ngày 25-6, hồ tiêu Lộc Ninh - nông sản đầu tiên của Bình Phước - tự hào được công bố nhãn hiệu tập thể. Chiếm 40% tổng diện tích và 50% sản lượng hồ tiêu cả tỉnh, những người trồng tiêu giỏi ở Lộc Ninh đã có công làm nên thương hiệu hạt tiêu sạch, thơm, chắc và phát triển bền vững.

GIAN NAN ĐẾN VỚI THƯƠNG HIỆU

Giữa tháng 6, kết thúc mùa thu hoạch tiêu ở Lộc Ninh với niềm vui giá cao, chúng tôi đến thăm vườn tiêu của các hộ được dán nhãn hiệu đầu tiên ở Lộc Ninh.
Nhãn hiệu tập thể hồ tiêu Lộc Ninh
Hơn 10km từ trung tâm xã Lộc Quang chạy qua những con đường đất đỏ, chúng tôi thấy nông dân tấp nập chuẩn bị mùa trồng mới và bón phân chăm sóc cây tiêu. Nằm men theo hồ thủy điện Srok Phu Miêng thuộc ấp Việt Quang với địa hình thoai thoải, vườn tiêu hàng ngàn trụ có độ tuổi 2-15 năm của anh em ông Đỗ Bá Hà (52 tuổi) hiện ra trước mắt chúng tôi với các giống Vĩnh Linh, tiêu Trung.

Quê ở Hưng Yên, năm 1998 anh em ông Hà, ông Tính đến Lộc Ninh tìm đất trồng tiêu. Lúc này, khu vực ven lòng hồ thủy điện Srok Phu Miêng hoang vắng được hai ông chọn định cư với đủ các tiêu chí về thổ nhưỡng và đặc biệt là có nguồn nước rất phù hợp để trồng tiêu. Năm 2001, giá tiêu bắt đầu giảm và chạm đáy chỉ còn 15-17 ngàn đồng/kg (năm 2003-2004). Tiếc ngơ ngẩn vườn tiêu đẹp đang trong thời điểm cho năng suất cao, anh em ông Hà thống nhất lấy công làm lãi, đi làm thuê để trang trải cuộc sống và giữ vườn tiêu chờ thời. Trời không phụ lòng người, từ năm 2010 đến nay giá tiêu tăng cao. Tháng 7-2014, tiêu có giá 200 ngàn đồng/kg so giá bình quân trước đây là 120 ngàn đồng do cầu vượt cung. Những hộ trồng tiêu như ông Hà, ông Tính ở Lộc Ninh đã thu vào tiền tỷ...

Đến nay, gia đình ông Hà có khoảng 15 ngàn trụ tiêu. Vườn tiêu đẹp không có nọc dặm do chết. Kinh nghiệm trồng và chăm sóc vườn tiêu bền vững của anh em ông Hà: Trồng chủ yếu bằng stump dây, trụ gỗ xen nọc sống bằng cây keo lá nhỏ để giữ trụ tiêu vững và làm đất dịu mát. Bón chủ yếu phân heo, gà; khi phun thuốc bảo vệ thực vật không vứt chai lọ trong vườn tiêu... Đây cũng là phương thức trồng, chăm sóc của những người trồng tiêu giỏi ở Lộc Ninh.

Năm 2010, Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) phối hợp Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) bình chọn vinh danh 10 người trồng tiêu giỏi nhất Việt Nam, trong đó Bình Phước có 6 người đều ở Lộc Ninh. Hiệp hội Hồ tiêu thế giới vinh danh 2 “vua trồng tiêu” ở Việt Nam, trong đó có ông Nguyễn Bá Thịnh ở ấp 4, xã Lộc An (Lộc Ninh). Kỹ sư Lê Thanh Bình, Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Lộc Ninh, người cả cuộc đời gắn bó với cây tiêu cho rằng: Nếu theo tiêu chí được vinh danh “người trồng tiêu giỏi” do Cục Trồng trọt đưa ra thì ở Lộc Ninh phải có đến hàng trăm người.

Bà Đinh Thị Mỹ Hạnh, Phó chủ tịch Hội Nông dân huyện Lộc Ninh cho biết: Có thương hiệu là mong ước chính đáng của người trồng tiêu Lộc Ninh hàng chục năm qua. Ngày 25-3-2014, Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 221701 cho nhãn hiệu tập thể hồ tiêu Lộc Ninh; 14 hộ nông dân trồng tiêu đầu tiên ở Lộc Ninh được dán nhãn hiệu sản phẩm. Hội nông dân sẽ vận động mở rộng thu hút người trồng tiêu giỏi dán nhãn hiệu và tiến tới thành lập Hiệp hội Hồ tiêu Lộc Ninh để xây dựng, bảo vệ thương hiệu.

QUẢNG BÁ VÀ MỞ CỬA ĐÓN DOANH NGHIỆP

Khoảng năm 1947 ở Lộc Ninh, hồ tiêu được trồng trên một số khu vực giáp biên giới với Campuchia và phát triển diện tích lớn những năm 1980-2000. Hiện Lộc Ninh có gần 3.800 ha hồ tiêu, trong đó gần 3.300 ha đang cho sản phẩm, năng suất bình quân đạt 3-3,5 tấn/ha. Lộc Ninh chiếm 40% tổng diện tích, 50% sản lượng hồ tiêu cả tỉnh (khoảng 11 ngàn tấn). Bình Phước là tỉnh được quy hoạch vùng trồng tiêu trọng điểm lớn nhất cả nước (10.000 ha).
Các sản phẩm hồ tiêu Lộc Ninh: Tiêu đen (chiếm 70% sản lượng xuất khẩu cả nước), tiêu trắng, tiêu xanh; tinh dầu tiêu, muối tiêu và bột tiêu. 3 giống tiêu chính: Ấn Độ, Vĩnh Linh và giống chủ lực là tiêu Trung (tiêu Lộc Ninh).
Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đã khẳng định tại lễ công bố thương hiệu hồ tiêu Lộc Ninh ngày 25-6: Nhiều thập kỷ Lộc Ninh đã nổi tiếng hồ tiêu chắc, đẹp, sạch với dung lượng bình quân trên 500g (tiêu đầu giá dung lượng 450g). Người trồng tiêu Lộc Ninh có nhiều kinh nghiệm thâm canh nên giữ được diện tích và năng suất hồ tiêu bền vững. Trong 6 vùng quy hoạch trồng tiêu trọng điểm sau Chư Sê (tỉnh Gia Lai), Lộc Ninh đã xây dựng được thương hiệu hồ tiêu, góp phần thực hiện chiến lược phát triển ngành hồ tiêu bền vững. Tuy nhiên, có thương hiệu chỉ là bước khởi đầu, phát huy hiệu quả thương hiệu là chặng đường dài. Thời gian tới chính quyền phải tích cực cùng nông dân và VPA tham gia hội nghị chuyên ngành hồ tiêu, hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước, đưa sản phẩm giới thiệu ra thị trường thế giới. Người trồng tiêu đoàn kết, giúp nhau kinh nghiệm sản xuất và giữ gìn danh hiệu sản phẩm theo tiêu chí an toàn vệ sinh thực phẩm, chống gian lận thương mại...

Lộc Ninh là huyện trồng tiêu có tiếng nhưng trên địa bàn chưa có doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu. Các đại lý thu mua chủ yếu bán cho các doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Năm 2014, Lộc Ninh có Công ty TNHH chế biến gia vị Nedspice Việt Nam đặt trạm thu mua. Để nâng cao giá trị thương hiệu hồ tiêu Lộc Ninh phải có chính sách thu hút doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu vào đầu tư, tạo mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp.

Bà Trần Thị Bích Lệ, Phó chủ tịch UBND huyện Lộc Ninh cho biết: Sản phẩm hồ tiêu làm ra phải đạt chất lượng, tiêu chuẩn là vấn đề then chốt để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo đó, người trồng tiêu phải hạn chế thấp nhất thuốc bảo vệ thực vật. Huyện Lộc Ninh sẽ rà soát, quy hoạch vùng trồng tiêu thích hợp cho giai đoạn 2015-2020 và định hướng 2030; đồng thời tăng cường công tác khuyến nông; thu hút doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu vào đầu tư... Nhanh chóng thành lập các hiệp hội ngành nghề để thống nhất kiểm soát, quản lý theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ nhằm nâng cao tính pháp lý bảo hộ độc quyền sở hữu công nghiệp.

Phương Hà
Theo Bình Phước Online
    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com