Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

8/10/14


Theo Businessline, việc Tòa án Tối cao bang Kerala cho phép gần 6.400 tấn hạt tiêu đã bị cầm giữ hơn 18 tháng qua do sử dụng chất bảo quản không được phép sớm ra thị trường, sau khi đã chỉ định các cơ quan chức năng kiểm định lại, có thể bị trì hoãn đã đẩy thị trường lên.

Bên cạnh đó, hạt tiêu chất lượng thấp từ Sri Lanka được đưa vào Ấn Độ để sản xuất tiêu bột theo chính sách biên mậu giữa hai quốc gia và các thương nhân quốc tế ở Dubai chào giá tiêu Việt Nam dưới 10.000 USD/tấn cũng góp phần đẩy thị trường đi xuống.

Vào đầu tháng này, giá tiêu Ấn Độ tăng nóng trở lại do nhu cầu tăng cao và nguồn cung vẫn còn bị thắt chặt. Báo cáo cho biết việc phát hành 6.400 tấn hạt tiêu của sàn NCDEX có thể bị trì hoãn đã đẩy thị trường lên. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ mùa đông tại Ấn Độ cũng bắt đầu gia tăng.

Không có người bán tiêu ở vùng núi cao với giá dưới 660 Rupi/kg, trong khi tiêu ở Pulpally, Bathery trong huyện Wayanad được người bán chào giá 650 Rupi/kg nhưng người mua muốn giá chỉ 645 Rupi/kg.

Hôm ngày 1/10 đầu tháng, trên thị trường giao ngay, chỉ có 2 tấn tiêu được chuyển đến và đã được bán.

Trên sàn IPSTA, các hợp đồng kỳ hạn không đổi, Hợp đồng tháng 10 ở mức 70.198 Rupi/tạ (tương đương 11.332 USD/tấn) và Hợp đồng tháng 11 ở mức 70.460 Rupi/tạ (tương đương 11.374 USD/tấn)

Giá giao ngay tăng 300 Rupi lên mức 64.300 Rupi/tạ (tương đương 10.380 USD/tấn) cho loại tiêu xô và 67.300 Rupi/tạ (tương đương 10.864 USD/tấn) cho loại tiêu chọn.

Giá xuất khẩu cũng tăng lên mức 11.500 USD/tấn (c&f) đối với hàng đi châu Âu và 11.750 USD/tấn (c&f) đối với hàng đi Mỹ, vẫn còn trả giá.

*(Tỷ giá: 1 USD = 61,9478 Rupi)

                                                                                                                                  Nguồn Giacaphe.vn

2/10/14



Sự phát triển ồ ạt của cây tiêu trong những năm qua không chỉ phá vỡ quy hoạch của Tỉnh mà còn dễ dẫn đến tình trạng cây tiêu bị dịch bệnh chết hàng loạt, gây thiệt hại đến kinh tế người dân. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện các mô hình sản xuất tiêu bền vững đang là một trong những giải pháp hiệu quả nâng cao giá trị cây tiêu cần được nhân rộng.

Vườn tiêu ở xã Ea Bhôk (Cư Kuin) cho năng suất cao và ổn định nhờ áp dụng kỹ thuật chăm sóc theo hướng bền vững.

Những năm gần đây, do giá tiêu hạt trên thị trường luôn ở mức cao nên nhiều hộ nông dân đổ xô trồng tiêu, khiến diện tích loại cây này trong Tỉnh không ngừng tăng nhanh. Nếu như năm 2005 toàn Tỉnh mới chỉ có 3.567 ha tiêu thì đến nay đã tăng lên 11.000 ha (vượt trên 6.000 ha so với quy hoạch), sản lượng đạt gần 20.000 tấn/vụ. Mặc dù là loại cây trồng có khả năng thích ứng với nhiều vùng đất và nhu cầu nước tưới ít hơn cà phê, vụ thu hoạch hoàn toàn trong mùa khô, nhưng do yêu cầu kỹ thuật chăm sóc đối với cây tiêu khá cao, vốn đầu tư lớn, nên việc mở rộng diện tích tiêu không theo quy hoạch và chăm sóc không hợp lý rất dễ khiến cây tiêu bị nhiễm bệnh chết.

Ông Huỳnh Quốc Thích, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Đăk Lăk cho biết, từ việc phát triển ồ ạt cây tiêu đã và đang kéo theo nhiều hệ lụy: Người dân phá bỏ nhiều diện tích cây trồng khác như cà phê, điều, cao su, cây ăn quả… để trồng tiêu. Thêm vào đó, khi chuyển sang trồng tiêu, người dân thường thiếu chú trọng khâu cải tạo đất, xử lý mầm bệnh. Phần lớn diện tích tiêu trong Tỉnh đều được trồng chủ yếu trên trụ chết, chưa chú trọng đến cây che bóng cho tiêu. Phân hóa học được bón với liều lượng cao, mất cân đối, lại ít quan tâm đến phân hữu cơ và chế phẩm sinh học cho cây tiêu, chính vì vậy tình hình sâu, bệnh hại trên cây tiêu phát triển mạnh, chưa có biện pháp hữu hiệu để khắc phục. Qua theo dõi của Chi cục BVTV, tính từ năm 2008 đến nay, tổng diện tích tiêu bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá chết chậm là gần 680 ha với tỷ lệ hại từ 5-20%, diện tích bị nhiễm tuyến trùng là 580 ha.

Để cải thiện tính bền vững trong quá trình sản xuất cây tiêu, năm 2011 Viện KHKT Nông – Lâm nghiệp Tây Nguyên phối hợp với Trung tâm Khuyến nông Tỉnh tiến hành khảo sát xây dựng mô hình trình diễn trồng tiêu theo hướng bền vững tại phường Tân Bình (thị xã Buôn Hồ) và xã Ea Bhôk (huyện Cư Kuin) trên diện tích 5,3 ha, gồm 20 hộ tham gia mô hình trồng tiêu trên trụ cây sống. Kết quả cho thấy, năng suất tiêu từ các mô hình này cao hơn sản xuất đại trà từ 20,2 – 25,0 % (so sánh tại các vùng xây dựng mô hình). Tiếp tục đến năm 2012, Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), tổ chức Sáng kiến Thương mại Bền vững (IDH), Công ty thu mua Euroma phối hợp với Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 (Simexco Dak Lak) đã hỗ trợ triển khai thực hiện Dự án “Phát triển chuỗi cung ứng tiêu bền vững”. Dự án được triển khai tại xã Quảng Tiến (huyện Cư M’gar), xã Ea Tân (huyện Krông Năng), phường Thống Nhất (thị xã Buôn Hồ) với sự tham gia của 500 hộ dân, diện tích tiêu được chứng nhận là 411 ha, sản lượng 777 tấn, sản lượng thu mua 336 tấn (theo chứng nhận Rainforest Alliance)… Từ việc triển khai thực hiện các mô hình sản xuất tiêu bền vững, nhiều hội, đoàn thể và đơn vị chức năng địa phương trong Tỉnh đã có cơ sở để tổ chức cho hội viên tham quan các vườn tiêu hiệu quả trên địa bàn; đồng thời mở các lớp tập huấn hướng dẫn về kỹ thuật trồng tiêu hiệu quả theo hướng bền vững để bà con nông dân áp dụng. Từ đó những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ thuật để chăm sóc cây tiêu đạt chất lượng cao đã được nhiều nông dân chia sẻ với nhau và mô hình này ngày càng nhân rộng.

Vườn tiêu của gia đình ông Trần Văn Tam ở xã Quảng Tiến, huyện Cư M’gar được áp dụng kỹ thuật chăm sóc theo hướng bền vững (theo Dự án Phát triển chuỗi cung ứng tiêu bền vững) từ hơn 2 năm nay. So với các vườn tiêu trồng theo phương thức truyền thống thì vườn tiêu gia đình ông có nhiều khác biệt như ít bị sâu bệnh, lá tiêu dày và xanh hơn, đặc biệt là đã hạn chế được dịch bệnh chết nhanh, chết chậm. Ông Tam cho biết, quy trình chăm sóc vườn tiêu bằng phương pháp sinh học khá đơn giản, chỉ sử dụng toàn phân xanh, phân chuồng ủ hoai, phân hữu cơ vi sinh để bón cho cây khi mới trồng. Khi tiêu cho trái thì bón thêm một ít phân vô cơ để hỗ trợ cây nuôi trái. Nhờ vậy với 1 ha tiêu kinh doanh, gia đình ông thu hoạch trung bình khoảng 6 tấn tiêu hạt, thu lãi trên 900 triệu đồng/năm, cao hơn các hộ trồng đại trà khác trong xã từ 1 – 2 tấn/ha.

Ông Huỳnh Quốc Thích cho hay: Đối với việc thực hiện các mô hình sản xuất tiêu bền vững thì nông dân được hỗ trợ tập huấn chuyển giao kỹ thuật canh tác tiêu bền vững, phương pháp thu hoạch, phơi sấy, bảo quản hồ tiêu và an toàn vệ sinh lao động. Đồng thời, được cấp phát và hướng dẫn sổ ghi chép nhật ký nông hộ, giúp nông dân chủ động hơn trong các khâu kỹ thuật, biết hạch toán chi phí trong sản xuất; được hỗ trợ mua tủ đựng thuốc BVTV, kinh phí đào hố để thu gom rác, nhất là bao bì thuốc BVTV nhằm bảo vệ môi trường, sức khỏe người lao động. Nhờ vậy, từ chỗ sản xuất tiêu theo kinh nghiệm là chính, nông dân đã biết hạn chế sử dụng phân bón hóa học, chú trọng dùng phân hữu cơ vi sinh, tạo hệ thống thoát nước, trồng cây che bóng, chắn gió và sử dụng các loại thuốc BVTV trong danh mục được khuyến cáo để phòng bệnh cho tiêu định kỳ nên vườn cây phát triển tốt, tăng năng suất. Không chỉ được chuyển giao kỹ thuật sản xuất tiêu bền vững, các hộ tham gia mô hình còn được doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn thị trường từ 2 – 4%. Đây cũng được xem là một trong những mô hình điểm thực hiện mối liên kết “4 nhà“ tạo ra vùng sản xuất nguyên liệu chất lượng cao, bền vững gắn với doanh nghiệp thu mua, chế biến và tiêu thụ ổn định.



                                                                                                           Nguồn Lê Thành (DakLak Online)






(HQ Online)- Theo báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT): Khối lượng tiêu XK tháng 9 ước đạt 7 nghìn tấn, với giá trị đạt 68 triệu USD, đưa khối lượng XK tiêu 9 tháng đầu năm lên 140 nghìn tấn với giá trị 1,06 tỷ USD, tăng 24,5% về khối lượng và tăng 41,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.
Nhiều nơi, nông dân đổ xô trồng tiêu không theo quy hoạch. Ảnh: Internet

Giá tiêu XK bình quân 8 tháng đầu năm 2014 đạt 7.459 USD/tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm 2013. XK tiêu sang thị trường Hoa Kỳ, Singapore, Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Ấn Độ - 4 thị trường lớn nhất nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2014 - chiếm 35,05%.

Thị trường Hoa Kỳ tăng 28,14% về khối lượng và tăng 40,87% về giá trị; Singapore tăng 83,19% về khối lượng và tăng gấp 2,3 lần về giá trị; Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất tăng 54,09 % về khối lượng và tăng 83,72% về giá trị; thị trường Ấn Độ tăng 2,06 lần về khối lượng và 2,4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Ông Nguyễn Xuân Hồng-Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật (BVTV), Bộ NN&PTNT cho biết: So với nhiều năm trước, giá XK tiêu hiện nay đang ở mức khá cao. Cụ thể, nếu năm 2006 giá hồ tiêu vào khoảng 1.600 USD/tấn, nay đã tăng lên 7.500 USD/tấn.

Tuy nhiên, hiện nay nảy sinh tình trạng, do giá XK cao, thời gian qua nông dân nhiều vùng đã đổ xô đầu tư, mở rộng diện tích trồng tiêu. Việc người dân trồng tiêu không theo quy hoạch, trồng ở cả vùng đất thấp, không thoát nước đã dẫn tới tình trạng tiêu bị bệnh và chết. Hiện đang có 10-15% diện tích tiêu bị bệnh, trong đó bệnh chết nhanh, chết chậm chiếm khoảng 7,5%.

“Tiêu là "con nhà giàu" nên người trồng tiêu đang lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho cây tiêu, đặc biệt là những hộ nông dân mới trồng chưa nắm bắt được kỹ thuật. Trước cảnh báo của một số nước NK hồ tiêu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, Cục Bảo vệ thực vật đã lấy 30% mẫu hồ tiêu để kiểm tra, phát hiện ra 1 mẫu có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt ngưỡng, chiếm 3,3%”, ông Nguyễn Xuân Hồng khẳng định.
                                                                                                                                      
                                                                                                                                         Thanh Nguyễn
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan ghi nhận, tính từ đầu năm đến ngày 15/9, xuất khẩu hồ tiêu đạt 1,022 tỷ USD. Đây là kỷ lục mới của hồ tiêu, đánh dấu mốc gia nhập CLB 1 tỷ USD.

Thu nhập từ 1 ha trồng tiêu hiện cao gấp 5-6 lần cà phê, gấp 12 lần trồng chè
CôngThương - Trong khi nhiều mặt hàng nông sản khác đang gặp nhiều khó khăn khi XK ra thị trường thế giới, hợp đồng thu mua bị suy giảm, bị bạn hàng ép giá… thì hồ tiêu vẫn tăng trưởng mạnh, vững bước tiến sâu vào thị trường thế giới. Lần đầu tiên sau bao năm XK, lần đầu tiên tiêu đạt trên 1 tỷ USD.

Nhiều khả năng cán đích trước 6 năm
Theo Bộ NN&PTNT, khối lượng tiêu XK trong tháng 8 ước đạt 6.000 tấn, thu về 56 triệu USD, đưa khối lượng XK tiêu 8 tháng đầu năm lên 126.000 tấn, đạt kim ngạch 926 triệu USD, tăng 23,9% về khối lượng và tăng 38,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013. Bước sang tháng 9, tiếp tục duy trì phong độ ổn định cả về giá cả, lượng XK, hồ tiêu ghi dấu ấn kỷ lục.

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trong nửa đầu tháng 9, các DN trong nước đã XK được 3.556 tấn hạt tiêu, đạt giá trị 34,081 triệu USD, nâng kim ngạch XK tiêu của cả nước từ đầu năm đến nay lên trên 136.000 tấn, đạt giá trị 1,022 tỷ USD. Như vậy so với cả năm 2013, lượng tiêu XK tính đến giữa tháng 9 đã nhiều hơn gần 4.000 tấn, XK cao hơn 100 triệu.

Hiệp hội Hồ tiêu quốc tế (IPC) dự báo, từ nay đến cuối năm, nguồn cung hồ tiêu cho thế giới sẽ thiếu hụt, không đáp ứng đủ nhu cầu vì các nước XK tiêu lớn như Ấn Độ, Indonesia giảm sản lượng 15-20%. Một lần nữa, đây sẽ là cơ hội cho ngành hồ tiêu Việt Nam tăng tốc XK.

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) dự báo, XK tiêu năm nay có thể sẽ tăng mạnh so với năm ngoái. Có khả năng năm 2014, XK tiêu sẽ đạt 1,3 tỷ USD - đây là con số tương đương với mục tiêu XK hồ tiêu của năm 2020 do Bộ NN&PTNT vừa đặt ra khi Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được phê duyệt.

Theo đó, mục tiêu phấn đấu của ngành là đến năm 2020, tầm nhìn 2030 diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì ổn định ở mức 50.000 ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 140.000 tấn và sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%, kim ngạch XK đạt 1,2-1,3 tỷ USD. Như vậy, nếu cuối năm ngành tiêu cán đích 1,3 tỷ USD cũng đồng nghĩa với việc cán đích sớm tới 6 năm. Nếu vậy, có lẽ Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu mới được phê duyệt, sẽ cần phải được chỉnh sửa lại cho theo kịp với thực tế.

Hiện tại, tiêu của Việt Nam đã có mặt tại hơn_90_quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam chiếm khoảng 30% sản lượng tiêu trên toàn thế giới và chiếm khoảng 50% khối lượng tiêu XK trên thế giới. Dù là nước gia nhập Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) muộn nhất (tháng 3/2005 mới được Liên Hiệp Quốc phê chuẩn là thành viên chính thức của Cộng đồng) nhưng vai trò và vị trí ngành hồ tiêu Việt Nam từng bước được nâng cao khi các nước bắt đầu lấy giá bán của Việt Nam để tham khảo.

Gần đây, nhiều thị trường XK tiêu của Việt Nam đạt mức tăng trưởng mạnh như Hoa Kỳ tăng 25,7% về khối lượng và tăng 35,19% về giá trị; Singapore tăng 80,74% về khối lượng và tăng gấp 2,27 lần về giá trị; Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất tăng 63,24% về khối lượng và tăng 93,63% về giá trị; Thị trường Ấn Độ tăng 85,68% về khối lượng và tăng gấp hơn 2 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Điều phối nhịp nhàng, hài hòa lợi ích
Ngành hàng hồ tiêu đạt được nhiều thành công, giữ vị trí đứng đầu thế giới về lượng hồ tiêu XK và từ năm 2001 và duy trì cho đến hiện nay là do chúng ta có năng suất tiêu bình quân đạt hơn 2 tấn/ha, thuộc nhóm có năng suất cao trên thế giới.

Ưu thế thứ hai là sự ổn định về chất lượng và sản lượng. Mặc dù một số nước sản xuất tiêu đã giảm lượng sản xuất do giá cả thấp trong vài năm gần đây, Việt Nam vẫn duy trì được diện tích và sản lượng. Đồng thời, chất lượng hạt tiêu ngày càng cao nhờ quan tâm và đầu tư nhiều hơn đến chế biến sau thu hoạch.

Thế mạnh thứ ba là khả năng giảm thiểu XK thông qua các nhà buôn trung gian, mà tăng cường XK trực tiếp cho những nhà cung ứng nguyên liệu cho các nhà máy chế biến gia vị ở các nước. Bên cạnh đó, sự khác biệt về thời điểm thu hoạch với những vùng canh tác chính trên thế giới cũng tạo lợi thế trong điều tiết thu mua, tiêu thụ cho hồ tiêu Việt Nam.

Trong khi Ấn Độ và Srilanka thu hoạch sớm từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, Brazil và Indonesia thu hoạch muộn hơn từ tháng 7 đến tháng 11. Việt Nam lại thường thu hoạch từ tháng 1 đến tháng 5 trong đó lượng thu hoạch tập trung chủ yếu trong tháng 2 và tháng 3.

Ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch VPA, khuyến cáo trong tình hình giảm cung và giá phục hồi như hiện nay, ngành hồ tiêu Việt Nam nên tập trung để phát triển bền vững. Trước hết cần kiểm soát ổn định diện tích và sản lượng hồ tiêu trong nước.

Với tín hiệu phục hồi giá, nông dân có thể tái đầu tư mạnh vào diện tích hiện có hoặc trồng mới thêm. Trong trung hạn, có thể gây ra vấn đề dư cung như thời gian trước đây dẫn đến sự trì trệ của cả ngành hàng trong tương lai. Diện tích trồng được khuyến cáo duy trì ở mức như hiện nay, trên dưới 50.000 ha.

Cần tiếp tục nâng cao trình độ công nghệ chế biến để đạt chất lượng hạt tiêu đảm bảo ATTP. Nâng dần tỷ trọng tiêu trắng trong cơ cấu tiêu xuất khẩu để nâng cao giá trị và lợi nhuận của ngành hàng.

Không khuyến thích thâm canh tăng năng suất, mà duy trì ổn định năng suất như hiện nay, tăng tuổi thọ vườn tiêu bằng các biện pháp canh tác và phòng trừ dịch bệnh tổng hợp.

Cần có những hoạt động nhằm điều phối, thống nhất việc XK tiêu giữa các DN để đạt được lợi ích chung cao nhất dựa trên các dự báo, thông tin thị trường chính xác. Các DN cần liên kết với hệ thống ngân hàng để có đủ vốn thu mua và dự trữ nguyên liệu ngay từ đầu vụ để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của toàn ngành.




                                                                                                                    Theo Thời báo Kinh doanh

1/10/14

VOV.VN - Giá hồ tiêu liên tục tăng tạo tâm lý ổn định cho các nhà vườn yên tâm mạnh dạn tái đầu tư vào sản xuất.

Liên tục trong nhiều năm nay giá hồ tiêu trên thị trường Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang luôn  biến động tăng giá, đây cũng là yếu tố tạo động lực cho các nhà vườn sản xuất hồ tiêu ở Phú Quốc yên tâm đầu tư phát triển bền vững loại cây trồng truyền thống trên đảo.

Đến thời điểm này, giá bán hồ tiêu tại Phú Quốc giao động từ 180.000 – 200.000 đồng/kg tiêu cội, hơn 250.000 đồng/kg đối với loại tiêu chín, tăng gấp 1,5 lần với giá bán thời điểm thu hoạch chính vụ 2013-2014 và cao nhất kể từ trước đến nay. Giá hồ tiêu liên tục tăng trong nhiều năm qua, mang lại tín hiệu vui, tạo tâm lý ổn định cho các nhà vườn yên tâm mạnh dạn tái đầu tư vào sản xuất.

Ông Nguyễn Văn Quý, người trồng tiêu ở ấp Ông Lang, xã Cửa Dương phấn khởi cho biết, người nông dân trên đảo trước nay vẫn dựa vào cây tiêu để xóa đói giảm nghèo, với mức giá như hiện nay, bà con nông dân trên đảo yên tâm trồng và phát triển cây hồ tiêu. Với giá tiêu này, mỗi hộ dân chỉ trồng 300 cây tiêu đã có thể cho lợi nhuận trang trải sinh hoạt ổn định cho gia đình 4 nhân khẩu.
Vườn tiêu của gia đình anh Hiếu cho năng suất cao.
Mùa mưa năm nay, hầu hết các nhà vườn trên đảo Phú Quốc đều phấn khởi tập trung trồng mới vườn tiêu hoặc trồng thay thế phục hồi các vườn tiêu cũ bị lão hóa. Nhiều nông hộ còn  mạnh dạn đầu tư trồng mới với số lượng lớn từ 1.000 - 2.000 bụi. Do phong trào trồng hồ tiêu diễn ra khá rầm rộ đã khiến chi phí đầu tư trồng mới cũng tăng cao.

Theo tính toán của bà con nông dân, năm nay chi phí trồng mới khoảng 400.000 đồng/bụi  bao gồm mua cây nọc, giống, công làm đất, phân bón. Đây là cây trồng đòi hỏi mất nhiều công sức, tuy nhiên nếu giá hồ tiêu vẫn giữ mức ổn định trên 150.000 đồng/kg thì mỗi ha tiêu sau khi trừ chi phí cũng cho lợi nhuận hơn 300.000 triệu đồng, nông dân vẫn có cơ hội làm giàu trên mảnh vườn, thửa rẫy của mình.

Anh Huỳnh Quang Trung, một người trồng tiêu ở huyện Phú Quốc cho biết, giá tiêu 2 năm nay thấy ổn định. Nếu đầu tư theo đúng bài bản, người trồng tiêu sau 1 năm có thể thu hồi vốn.

Mới đây, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang đã phối hợp với Sở Văn hóa thể thao - du lịch và UBND huyện Phú Quốc khảo sát và nghiên cứu xây dựng đề tài mô hình du lịch sinh thái vườn tiêu đảo Phú Quốc nhằm đưa mô hình du lịch sinh thái vườn tiêu Phú Quốc phát triển quy mô và bền vững.

Tuy nhiên, theo quy hoạch phát triển nông nghiệp đến năm 2015, Phú Quốc chỉ giữ vững diện tích hồ tiêu khoảng 500 ha. Bởi vậy huyện cũng khuyến cáo nông dân không nên đầu tư trồng mới ồ ạt, tránh  tình trạng hồ tiêu biến động xuống giá,  điều này đã từng xảy ra nhiều lần trong quá khứ./.



Theo LAM HIẾU/VOH - ĐBSCL

28/9/14


 Nguyễn Văn Linh
Tổng hợp từ tài liệu nước ngoài

HIỂU BIẾT VỀ VƯỜN TƯỢC 



Muốn cây trồng tươi tốt và việc canh tác thành công thì điều quan trọng là ta phải bỏ thời gian chăm sóc chúng, điều này giúp ta phát hiện những hiện tượng bất lợi để tìm cách ngăn ngừa hoặc chữa trị trước khi trở thành một vấn nạn nghiêm trọng. Việc phát hiện sớm các hiện tượng bất thường sẽ giúp chúng ta có thể đẩy lui được cơn bộc phát của các nguyên nhân gây hại một cách đơn giản nhất là tiêu diệt chúng.

Cần nhận biết bệnh của cây ngay từ đầu, đừng để cho đến khi khu vườn của bạn hư hỏng nặng và tốt nhất là phải tạo điều kiện thuận lợi cho cây phát triển.

HIỂU BIẾT VỀ THỰC VẬT

Nếu không kể đến yêu cầu kỹ thuật thì cây phát triển được phụ thuộc trước tiên vào các yếu tố như không khí, nước, ánh sáng, nhiệt độ và nhiều chất dinh dưỡng để rễ hấp thu từ đất. Độ ẩm và oxy từ không khí rất cần thiết để hạt giống nảy mầm, quá tình nảy mầm và phát triển của cây sẽ ngừng lại khi nhiệt độ rơi vào mức điểm đông. Ánh sáng cũng ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của cây qua việc kích họat các diệp lục tố trên lá để kết hợp với cacbon dioxide từ không khí và nước hấp thu qua rễ tạo thành đường. Lần lượt những đường này sẽ chuyển đổi thành tinh bột hoặc các carbohydrate khác nhằm thiết lập cấu trúc thực vật. Những cacbohydrate này sau đó kết hợp với N và Mg thành lập diệp lục tố, hoặc kết hợp với P, S thành lập những cấu trúc protein phức tạp khác nhau. Calcium có vai trò trong cấu trúc thành tế bào thực vật giống như cấu trúc xương của động vật. Một số chất khoáng có tác dụng như chất xúc tác nhằm hỗ trợ cho việc thành lập các hợp chất và mô thực vật. Mặc dù chỉ cần một lượng nhỏ nhưng chúng có vai trò hết sức quan trọng bởi vì không có mặt chúng thì cây không tăng trưởng được, đó là các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng.

Trong bài viết này sẽ có phần đề cập đến triệu chứng thiếu chất khoáng biểu hiện trên cây như thế nào, mô tả vai trò và sự cần thiết các chất khoáng trong đất. Chẩn đoán chính xác triệu chứng thiếu dinh dưỡng chỉ từ những biểu hiện trên cây trồng hết sức khó khăn bởi vì cây có thể thiếu cùng lúc nhiều chất khác nhau. Cải thiện các triệu chứng thiếu dinh dưỡng bằng cách bón đúng chất bị thiếu không phải lúc nào cũng làm được vì đôi khi chính những chất bị thiếu này đã hiện diện trong đất nhưng chúng không có khả năng chuyển hóa sang dạng để cây có thể hấp thu được. Các chất khoáng không tan có thể là do đất quá acid hay quá kiềm thậm chí là thừa chất khoáng nào đó trong đất. Triệu chứng thiếu cũng thường xảy ra trong đất quá ẩm ướt hoặc đất có kết cấu quá chặt vì rễ cây không thể hoạt động tốt trong những điều kiện này.

HIỂU BIẾT VỀ ĐẤT

Hiểu biết về đất cũng quan trọng như hiểu biết về cây trồng. Đây là hai vấn đề liên quan chặt chẽ với nhau vì nếu đất ở trong điều kiện khắc nghiệt thì rễ cây cũng trong điều kiện bất lợi và không thể hoạt động hiệu quả để vận chuyển chất khoáng. Bạn có thể cải tạo đất trồng có lẫn sét, kể cả đất trồng trong chậu bằng cách thêm nhiều chất hữu cơ.

Than bùn trộn vào đất giúp tăng khả năng giữ nước nhưng phải bảo đảm than bùn đã được xử lý. Phủ trên bề mặt đất trồng một lớp nguyên liệu hữu cơ như mùn, lá mục, hoặc cỏ cắt nhỏ sẽ giúp duy trì độ ẩm cần thiết cho đất. Không cần chôn vùi những nguyên liệu này vì sau đó những mẫu hữu cơ nhỏ hơn sẽ tự chui sâu vào đất, ngoài ra hoat động của trùn đất cũng rất tốt vì chúng sẽ trộn những nguyên liệu này với đất làm cho đất tơi xốp. Lớp phủ này có giá trị như một lớp cách nhiệt nhằm tránh khỏi điều kiện quá nóng, quá lạnh, giảm thiểu thoát hơi, giữ độ ẩm, cải thiện hoàn toàn điều kiện của đất.

Nếu đất canh tác của bạn là đất cát thì điều quan trọng quyết định thành công khi trồng trọt là bón phân đều đặn nhưng với hàm lượng thấp, chia lượng phân được khuyến cáo để bón làm hai hoặc ba lần vì chất dinh dưỡng dễ bị rửa trôi ở đất cát. Đất cát có khả năng khô nhanh chóng sẽ không làm cây bị úng nước nhưng cũng là mối nguy hại cho rễ cây vì những muối tan trong đất sẽ tích tụ trong khoảng thời gian khô hạn kéo dài.

NƯỚC

Nước chiếm phần lớn trong tế bào và mô thực vật và được sử dụng để tạo thành đường. Nước cũng là phương tiện chuyên chở các chất dinh dưỡng từ rễ đến các bộ phận của cây. Triệu chứng thiếu nước biểu hiện khi nước không được cung cấp đầy đủ đến tế bào để vận chuyển các nguyên tố đến nơi cần đươc cung cấp; nước dư thừa sẽ thoát ra ngoài qua những lỗ nhỏ trên lá. Đây là một tiến trình liên tục do đó những cây đang trong giai đoạn tăng trưởng cần lượng nước rất nhiều. Người ta ước đoán một cây lớn trong giai đoạn phát triển có thể sử dụng 360 lít nước mỗi ngày.

PHẢI TƯỚI NƯỚC NHƯ THẾ NÀO?

Mặc dù nước rất cần cho sự sống của cây trồng nhưng nếu quá nhiều nước sẽ gây hại. Như đã đề cập về đất, để rễ cây hoạt động tốt cần có oxy trong khoảng trống giữa những hạt đất, nếu những khoảng trống này đầy nước thì đất sẽ bị ngập úng, khi đó không khí thoát ra ngoài, những khí độc bi ngăn chặn không thoát ra đươc, sau đó rễ cây sẽ bị ngạt, không thể hô hấp và chết. Nấm gây bệnh trên rễ cây cũng thường xuất hiện ở đất ướt, thiếu oxy.

Không ai có thể xác định cây cần lượng nước là bao nhiêu vì điều này còn phụ thuộc vào nhiệt độ, ánh sáng mà cây nhận được, độ ẩm không khí. Vào mùa khô thực vật cần nước nhiều vì nước thoát hơi khỏi đất và lá nhiều hơn, và trong điều kiện nóng ấm thì thực vật tăng trưởng nhanh hơn nên nhu cầu về nước cũng gia tăng. Do đó cần tưới nước khi bề mặt đất khô ráo và lượng nước tưới cần đủ để nuớc ngấm xuống những tầng đất có rễ cây.

ĐỘ ACID CỦA ĐẤT

Độ acid của đất thể hiện qua chỉ số pH. Chỉ số pH bắt đầu từ 1 là độ acid cao nhất đến 14 là độ kiềm cao nhất, độ trung tính sẽ có chỉ số pH là 7.

Yếu tố acid hay kiềm rất quan trọng vì chỉ trong khoảng trung tính thì các nguyên tố mới dễ tan trong đất để cây hấp thụ, do đó đất quá acid hoặc quá kiềm có thể xảy ra triệu chứng thiếu dinh dưỡng ở cây mặc dù các nguyên tố này vẫn hiện diện trong đất, ví dụ những nguyên tố thiết yếu như K, P, B, Mo mất khả năng hòa tan khi độ acid tăng (pH nhỏ hơn 5.0), tương tự khi đất trở nên kiềm (khoảng > 7.0) thì măng gan (Mn), nhất là sắt (Fe) sẽ không tan. Triệu chứng thiếu sắt thường xảy ra khi đất được bón quá nhiều vôi do vôi làm tăng độ kiềm. Triệu chứng thiếu sắt làm lá vàng nhất là ở nơi tăng trưởng mới.
Tuy nhiên bạn không cần kiểm tra đất thường xuyên, nhiều nhà vườn thành công mà không quan tâm kiểm tra độ pH đất. Mục đích chính của vấn đề là bạn nhận thức được độ acid và kiềm ảnh hưởng đến dinh dưỡng và sức khỏe cây như thế nào, không được để đất quá acid hay quá kiềm, chỉ trừ trường hợp một số cây trồng ưa acid.

Có những cây được xem như là cây chỉ thị độ pH, ví dụ như xà lách, bắp cải, củ cải, hành, cà rốt, đậu… thì thích hợp với đất hơi acid.

Cẩm tú cầu thường được xem là cây chỉ chị độ acid hay kiềm của đất vì màu sắc hoa phụ thuộc vào hàm lượng Al trong đất. Khi hoa có màu hồng thì đất trồng có tính kiềm, hoa xanh thì đất trồng có tính acid. Có thể tăng độ acid trong đất bằng cách bón nhôm sulphate hay sắt sulphate, than bùn cũng có hiệu lực tăng độ acid.

TỔNG QUÁT VỀ BÓN PHÂN

Để khu vườn tốt không nhất thiết phải sử dụng nhiều phân bón. Trong thiên nhiên cây tăng trưởng và phát triển nhờ xác bã thực vật rơi xuống đất bị phân hủy và chuyển đổi từ chất hữu cơ thành muối vô cơ tan, những muối này sẽ đựoc cây hấp thu qua rễ, vòng tuần hoàn này xảy ra liên tục. Người, động vật, chim, côn trùng đều ăn thực vật, những chất được thải ra ngoài cơ thể và xác chết của chúng cũng được phân giải và trở lại đất, quá trình này đã tham gia hoàn tất chu trình sinh thái.

Ngoài việc sử dụng xác bã thực vật và những phế liệu hữu cơ trong gia đình làm phân mùn, sử dụng phân động vật nhất là phân gia cầm và phân cừu rất hiệu quả. Tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng của phân chuồng phụ thuộc vào thức ăn cho động vật và cách xử lý phân vì hiện tượng thất thoát đạm và những chất khoáng khác thường xảy ra qua thời gian mưa nắng.

Phân chuồng có những giá trị và tính năng đặc trưng của nó. Cây trồng được chăm bón bằng phân vô cơ kết hợp với các loại mùn hữu cơ vẫn không thể cho kết qủa ngang bằng với cây được chăm bón bằng phân chuồng dù là với tỷ lệ dinh dưỡng hợp lý tương đương.

Khi sử dụng phân hoá học phải hết sức cẩn thận vì chúng thường gây tai hại nếu sử dụng quá liều lượng cần thiết. Những nhà vườn thiếu kinh nghiệm thường cho rằng những khuyến cáo như một nắm phân cho mỗi mét vuông sẽ không đủ dinh dưỡng cho cây và họ sẽ bón lượng phân lớn hơn hoặc có người cho rằng nếu bón một ít thì sẽ tốt vậy bón gấp hai thì cây trồng cũng sẽ tốt gấp hai, quan niệm này không đúng trong sử dụng phân bón.

Phải xem xét kỹ các hướng dẫn sử dụng của bất kỳ loại phân bón nào, chỉ nên bón phân khi đất ẩm và phải tưới nước sau khi bón vì dung dịch muối sẽ đậm đặc hơn khi đất khô ráo và khi đó sẽ gây nên những vấn đề nghiêm trọng. Người ta thường bón nhiều phân quá mức khi đất không có độ ẩm thích hợp làm cho cây suy sụp suốt mùa khô hoặc sau khi đã bón nhiều tuần.

Cây trồng trong chậu thường dễ bị nguy hại vì phân bởi vì muối tan không thể khuếch tán ra đất chung quanh khi nồng độ dinh dưỡng tăng cao nhất là khi đất trong chậu bị khô.

Mối nguy hại của đất thừa dinh dưỡng từ phân hữu cơ không đáng kể vì nguyên liệu hữu cơ phải qua quá trình phân giải bởi vi sinh vật đất để chuyển đổi muối hữu cơ thành muối vô cơ tan cho cây hấp thu. Do quá trình phân hủy nguyên liệu hữu cơ chậm nên việc giải phóng chất dinh dưỡng đáp ứng cho cây cũng xảy ra chậm, vì thế nguy hại cho rễ ít hơn nhiều so với dùng phân vô cơ.

KHI NÀO THÌ NÊN BÓN PHÂN?

Chỉ cần bón phân khi cây trong giai đoạn tăng trưởng, không bón phân khi cây trong giai đọan tiềm sinh bởi vì khi đó cây không có khả năng sử dụng phân và chính những chất dinh dưỡng không được sử dụng này sẽ tích tụ và gây hại đến cây. Không bón phân khi cây bị thương hay suy yếu, tránh lầm lẫn với triệu chứng thiếu dinh dưỡng. Hầu hết cây tăng trưởng mạnh vào mùa xuân và đây là giai đoạn tốt để bón phân nhưng bất cứ trường hợp nào thì cũng chỉ nên bón phân khi cây có những dấu hiệu phát triển. Không bón phân nhiều hơn khuyến cáo hay chỉ bón một nửa lượng phân trên đất cát khô, lượng phân bón cũng giảm khi bón vào chậu.

Khi bón phân hãy rải phân ngay dưới vòng ngoài tán lá bởi vì đây là nơi tập trung nhiều rễ hút nhất so với vùng gần thân cây. Bón phân khi đất ẩm và tưới nước sau khi bón.

Bón phân lần tiếp theo phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ tăng trưởng của cây. Thực hiện bón phân một lần vào mùa xuân sẽ cung cấp đầy đủ dinh dưỡng đối với những cây nhỏ. Cây ăn trái thường thích hợp với việc bón phân lần hai khi trái đang hình thành. Cây thuộc họ cam quýt bón phân kích thích tăng trưởng vì thế lần bón đầu tiên nên vào đầu xuân, lần bón thứ 2 vào giữa mùa hè, có thể lần bón tiếp theo vào mùa thu. Cây rau và hoa sinh trưởng nhanh từ lần bón thứ hai sau lần bón thứ nhất từ 6 đến 8 tuần.

Các loại phân bón hòa tan trong nước dùng phun lên cây nên bón thường xuyên hơn so với dạng phân bón gốc. Các loại rau, nhất là rau ăn lá nên bón một tuần một lần sẽ không quá mức dinh dưỡng khi tưới đẫm. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đa số loại phân bón pha loãng với nước thường chứa lượng N rất cao do N có khuynh hướng kích thích tăng trưởng lá xanh mạnh mẽ, những cây họ đậu và cây hoa nên bón lượng phân ít hơn thông thường cho đến khi chồi hoa hoặc trái non xuất hiện, khi đó phân bón sẽ làm gia tăng kích thước hoa và trái. Lượng phân bón mà cây hấp thu được ảnh hưởng bởi lượng nước mà cây nhân được, tuy nhiên mưa kéo dài sẽ rửa trôi các chất dinh dưỡng khỏi đất, khi đó cần bón phân sớm hơn thường lệ./.


26/9/14

Tuyến trùng là dịch hại phổ biến trên nhiều loại cây lương thực, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, rau, hoa… Tuyến trùng có kích thước rất nhỏ, hầu hết có dạng hình giun, một số ít có dạng tròn hay bầu dục. Số loài tuyến trùng ước khoảng 1 triệu loài, trên 28.000 loài được mô tả, trong đó trên 16.000 loài ký sinh.

Tuyến trùng gây hại bằng cách dùng kim chích vào mô thực vật để hút chất dinh dưỡng. Tuyến trùng có thể gây hại trên rễ, thân, lá… Tuy nhiên chủ yếu gây hại trên rễ. Tuyến trùng sống và gây hại chủ yếu trong đất.

Trên tiêu, triệu chứng do tuyến trùng thường thấy là cây cằn cỗi, lá vàng vọt, héo, chót lá đen dần rồi rụng, nếu nhổ gốc lên quan sát ta thấy trên rễ có các mụt u sần, rễ cong queo, hệ rễ phát triển kém…
 Nguyên nhân do tuyến trùng chích hút, bơm các độc tố vào rễ, làm rễ bị nghẽn mạch, phù to tạo nên các khối u sần, giảm khả năng hấp thu nước và dưỡng chất khiến cây sinh trưởng và phát triển kém, triệu chứng sẽ năng hơn nếu kết hợp với nấm bệnh, virus, vi khuẩn xâm nhập qua các vết thương trên rễ do tuyến trùng gây ra như nấm Phytophthora, Pythium, Rhizoctonia… gây bệnh chết nhanh, chết chậm, rụng lóng chết dây, tiêu điên.

Thường các triệu chứng do tuyến trùng thường thấy vào đầu mùa khô, khi có nước và chăm sóc, bón phân, bệnh suy giảm.

Trên tiêu có nhiều loại tuyến trùng gây hại, tuy nhiên phổ biến nhất là tuyến trùng Meloidogyne, Pratylenchus, Radopholus, Xiphinema, Circonemoides.

Để hạn chế tuyến trùng cần chú ý áp dụng các biện pháp tổng hợp như đào mương thoát thủy (để hạn chế tuyến trùng lây lan, đồng thời hạn chế bệnh chết nhanh, chết chậm), tăng cường bón vôi, bón phân Calcium - Nitrate (tuyến trùng thích đất hơi chua), bón phân hữu cơ hoai mục (vì trong phân hữu cơ có nhiều vi sinh vật và tuyến trùng đối kháng)… và cuối cùng xử lý bằng thuốc hóa học đặc trị như Saburan 10Gr.

Saburan 10Gr là thuốc xử lý đất, phòng và trị các loại tuyến trùng (rệp sáp gốc, sùng trắng, kiến, mối) hại rễ tiêu, ngoài ra còn bảo vệ rễ, ngăn ngừa các loại nấm hại gây bệnh chết nhanh, chết chậm, tiêu điên, bệnh rụng lóng, chết dây. Saburan 10Gr thuộc nhóm độc III, thời gian cách ly 14 ngày.
Sử dụng:
Cây trồng Liều lượng Cách dùng
Hồ tiêu 30 gram/trụ Xới nhẹ quanh gốc 30 – 50 cm, sâu khoảng 10 cm, xong rải thuốc, lấp đất, tưới nhẹ. Nên xử lý đất vào đầu mùa mưa, nếu mật số tuyến trùng cao, có thể xử lý thêm lần hai vào giữa hay cuối mùa mưa.
Xới nhẹ quanh gốc 30 - 50 cm, sâu khoảng 10 cm, xong rải thuốc, lấp đất, tưới nhẹ. Nên xử lý đất vào đầu mùa mưa, nếu mật số tuyến trùng cao, có thể xử lý thêm lần hai vào giữa hay cuối mùa mưa. Có thể trộn thuốc với phân bón, các loại thuốc trừ sâu, trừ bệnh khác để rải gốc.

Ths Huỳnh Kim Ngọc
Theo: NNVN

25/9/14

Hội nghị Thường niên Hiệp hội Hồ tiêu Quốc té - IPC lần thứ 42 sẽ được tổ chức tại Khách sạn Sheraton, Q.1, TP.HCM từ ngày 27-30/10/2014. Hội nghị là nơi họp mặt đông đảo đại biểu là các nhà sản xuất, chế biến XNK Hồ tiêu và gia vị của các nước thành viên IPC và đại diện các Hiệp hội gia vị lớn như Hiệp hội Thương mại Gia vị Mỹ (ASTA), Hiệp hội Gia vị Châu Âu (ESA), các nhà nhà mua bán XNK Hồ tiêu, gia vị trên toàn thế giới. Nội dung hội nghị rất phong phú, theo chương trình sẽ diễn ra hội nghị chuyên đề về kỹ thuật trồng trọt, các biện pháp phòng trừ sâu bệnh, chế biến bảo quản, tại Hội nghị về XNK các đại biểu sẽ báo cáo về XNK, tiêu thụ, tồn kho, thị trường giá cả, các biện pháp bình ổn thị trường, các qui định về chất lượng VSAT thực phẩm.

Phí tham dự Hội nghị là 100 USD/người hoặc 2.200.000 đồng/người + 1 tấm ảnh scan 3x4. Quý Hội viên nào đăng ký tham dự Hội nghị xin vui lòng đăng ký trước ngày 3/10/2014 (IPC sẽ in thông tin người tham dự trong cuốn danh bạ Hội nghị, hạn chót gởi thông tin ngày 3/10/2014).

Quý Hội viên có thể đóng tiền mặt tại Văn phòng Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam: 135A Pasteur, P.6, Q.3, TP.HCM hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Hiệp hội. Số TK: 007.100.068.8670 tại Vietcombank TP.HCM.

Nếu Quý Hội viên thanh toán chuyển khoản, xin vui lòng Fax ủy nhiệm chi về Văn phòng Hiệp hội.
Mọi thông tin về Hội nghị IPC 42, xin vui lòng liên hệ: Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam - 08 38.237.288

Trang web chính thức của Hội nghị IPC 42

24/9/14

13 năm liên tục ở “ngôi hậu” trong “làng xuất khẩu hồ tiêu thế giới”, hạt tiêu Việt Nam đang ở thời kỳ huy hoàng nhất. Quy hoạch phát triển cho ngành này vừa được ban hành cuối tháng 6, nay đã bộc lộ tính thiếu thực tế...
Tiêu xuất khẩu được giá, nông dân phấn khởi tăng diện tích trồng, chuyên gia cảnh báo coi chừng “bội thực” - Ảnh: T.B.D.

Các nhà hoạch định chiến lược hoàn toàn có lý khi khẳng định quy hoạch phát triển phải dựa trên nhu cầu thị trường, khai thác lợi thế về đất đai, nguồn nước, khí hậu, thời tiết để phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung, hiệu quả và bền vững... Nhưng, dường như các nhà hoạch định lại đang tự mâu thuẫn với chính mình trong mục tiêu phát triển và định hướng quy hoạch.

Giữ kỷ luật hay giả làm ngơ?

Hồ tiêu của Việt Nam là cây trồng có sức cạnh tranh đặc biệt lớn, thị trường thế giới lại rất hút hàng, giá hồ tiêu xuất khẩu đang cao kỷ lục khiến nông dân trồng tiêu lãi to. Cho nên không chỉ nông dân, mà có lẽ ngay cả các cơ quan quản lý địa phương cũng đang làm ngơ trước mệnh lệnh xóa bỏ hơn 20% diện tích hồ tiêu nằm ngoài quy hoạch.

Trước hết, nếu diện tích trồng hồ tiêu năm 2013 tăng theo diện tích cho thu hoạch như đã được công bố thì tổng diện tích đã đạt hơn 62.000ha, tức là tăng khoảng 12.000ha (23,8%) trong vòng bốn năm gần đây. So với quy hoạch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, diện tích hồ tiêu duy trì và ổn định ở mức 50.000ha, thì con số tăng nói trên phải xử sao đây?

Tại sao diện tích hồ tiêu lại tăng nóng chỉ trong một thời gian ngắn như vậy? Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng do giá hồ tiêu xuất khẩu những năm gần đây đã hai lần tăng đột biến. Nếu như giá hồ tiêu xuất khẩu năm 2006 chỉ đạt 1.632 USD/tấn thì năm 2007 tăng gấp đôi lên 3.269 USD/tấn, nửa đầu năm nay đã là 7.156 USD/tấn. Đây chính là nguồn động lực cực lớn thúc đẩy nông dân dồn sức phát triển cây tiêu.

Doanh thu từ hồ tiêu cao hơn bất kỳ loại cây công nghiệp lâu năm nào khác, mỗi hecta hồ tiêu đạt hơn 14.200 USD, cao gấp 5,2 lần so với cà phê, 5,6 lần so với cao su và 8 lần so với chè và điều. Rõ ràng với doanh thu như vậy, chắc chắn “phán quyết” giảm mạnh diện tích đang lãi “khủng” hiện nay để chuyển sang các loại cây cho doanh thu thấp hơn là điều quá khó để nông dân chấp nhận, nếu không muốn nói là không thể.

Giá có thể tăng mãi được không?

Giá hồ tiêu tăng nóng như vậy có phải nhờ ngành hồ tiêu nước ta đã điều tiết được giá thế giới, trong đó công đầu thuộc về nông dân, như nhiều ý kiến đã khẳng định? Các số liệu thống kê hoàn toàn đủ để cho phép khẳng định rằng đây chỉ là điều kiện đủ, khi điều kiện cần đã xuất hiện.

Trước hết, theo Tổ chức Lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO), diện tích hồ tiêu thế giới năm 2012 đã giảm xuống 540.000ha (từ 640.000ha năm 2006), tức là đã giảm tới 15,7%. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu khiến sản lượng hồ tiêu thế giới năm 2012 chỉ đạt 461.000 tấn, vẫn giảm 5.000 tấn so với kỷ lục 466.000 tấn trước đó sáu năm, do năng suất trong cùng kỳ tăng khá.

Theo ước tính của IPC, sản lượng hồ tiêu thế giới năm nay lại giảm do mất mùa và gần như sẽ trở lại như mức đã đạt được năm 2006. Như vậy, sản lượng hồ tiêu thế giới bảy năm gần đây hầu như “giậm chân tại chỗ”. Nghĩa là nguồn cung khan hiếm làm giá liên tục sốt nóng.

Trong điều kiện cán cân cung - cầu nghiêng về phía các quốc gia xuất khẩu như vậy, với tỉ trọng thị phần xấp xỉ 39% trong những năm gần đây, việc nông dân trồng hồ tiêu nước ta không ồ ạt bán ra ở những thời điểm nhất định, họ đã tận dụng được cơ hội mà thị trường mang lại.

Bởi lẽ, nếu như diện tích và sản lượng hồ tiêu thế giới tăng mạnh như những năm trước đây, giá hồ tiêu liên tục đứng ở mức thấp thì cho dù điều tiết được lượng xuất khẩu, chắc chắn họ cũng không có phép mầu nào để đẩy giá xuất khẩu nhúc nhích.

Theo quy luật thị trường hàng hóa thế giới, sau một thời gian tăng nóng đủ dài, giá cả sẽ thúc đẩy sản xuất tăng mạnh, dẫn tới tình trạng cung lớn hơn cầu, giá cả sẽ giảm mạnh cũng trong một thời gian đủ dài, một chu kỳ gồm hai pha nóng, lạnh tương tự sẽ được lặp lại. Điều đó đã được chứng minh trong ba thập kỷ gần đây. Thị trường hồ tiêu đã trải qua hai chu kỳ sốt nóng - lạnh 1985-1993 và 1994-2005, từ năm 2006 đến nay là giai đoạn sốt nóng.

Trong khi đó, với tổng sản lượng ổn định ở mức 140.000 tấn theo quy hoạch đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2-1,3 tỉ USD, giá hồ tiêu xuất khẩu của nước ta ít nhất phải đạt khoảng 8.600-9.300 USD/tấn, tức là sẽ tăng khoảng 30-40% so với năm 2013.

Cho dù mục tiêu này còn được hỗ trợ bởi việc nâng cao chất lượng và tái cơ cấu, nhưng sau pha sốt nóng đã bước sang năm thứ tám hiện nay, không ai dám đoán chắc giá hồ tiêu thế giới sẽ còn liên tục tăng mạnh như hiện nay. Và nếu giá tiếp tục tăng nóng như vậy, chắc chắn nông dân nước ta sẽ còn dồn sức hơn nữa để phát triển hồ tiêu, cho nên mục tiêu giảm diện tích sẽ càng xa vời hơn nữa.

Hướng đi nào?

Như đã nói ở trên, cho dù giá hồ tiêu năm nay đã bước sang năm thứ tám sốt nóng, mà theo quy luật sau “nóng” sẽ là “lạnh”. Nhưng cũng lại có những dự đoán rằng nhiều khả năng chu kỳ “nóng” còn kéo dài khoảng ba bốn năm nữa và sẽ đạt kỷ lục về thời gian sốt nóng kể từ thập niên 1960 trở lại đây.

Lý do chủ yếu để suy đoán như vậy là do châu Á chiếm gần 90% diện tích và 84% sản lượng hồ tiêu thế giới đang đối mặt với nguy cơ El Nino, cho nên rất khó để khôi phục nhanh diện tích trong ngắn hạn.

Trong đó, như các số liệu thống kê của FAO cho thấy, trong khi diện tích hồ tiêu của “người khổng lồ” Ấn Độ đạt kỷ lục hơn 260.000ha năm 2006, chiếm 40,7% tổng diện tích thế giới, nhưng năm 2012 vẫn ở sát mức đáy 185.000ha.

Bên cạnh đó, một “đại gia” khác về diện tích hồ tiêu là Indonesia với gần 179.000ha (năm 2012) cũng chỉ có năng suất khiêm tốn ở mức 58% năng suất bình quân của thế giới, cho nên khả năng nhanh chóng phục hồi diện tích bị giảm rất lớn cũng không hề dễ dàng.

Trong điều kiện như vậy, với ưu thế vượt trội gấp 2,34 lần năng suất bình quân của thế giới và gấp 4 lần của Indonesia, thậm chí gấp 6,9 lần của Ấn Độ..., rõ ràng sức cạnh tranh của hồ tiêu nước ta là đặc biệt lớn.

Thực tế đó có lẽ cho phép khẳng định rằng việc nông dân nước ta tăng rất mạnh diện tích hồ tiêu kể từ cuối thập niên 1990, thậm chí tăng ồ ạt ngay cả trong những năm sốt lạnh giá hồ tiêu thế giới đầu thế kỷ này và giành luôn “ngôi hậu” trong “làng xuất khẩu hồ tiêu thế giới” để hưởng lợi giá hồ tiêu thế giới sốt nóng từ năm 2006 đến nay là lựa chọn đúng.

Trong bối cảnh như vậy, ép nông dân giảm mạnh diện tích là một việc khó. Chấp nhận diện tích hiện có, hay thậm chí tăng thêm, làm tăng vọt năng suất lên gấp rưỡi như mục tiêu đã đề ra cần phải dựa trên cơ sở tính toán và năng lực dự báo thị trường giỏi của đội ngũ chuyên môn có nghiệp vụ vững vàng.

Giảm diện tích và sản lượng trong lúc sốt nóng giá cả thế giới vẫn còn ở phía trước là một quyết định không dễ dàng. Nhưng rõ ràng, trong tư thế dẫn đầu hiện nay, một nỗ lực cần làm tốt bên cạnh năng suất và tái cơ cấu mặt hàng là việc xây dựng thương hiệu, hình ảnh cho “tiêu Việt Nam”, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Vỡ quy hoạch

Giá hồ tiêu thực tế tại vườn ở Gia Lai dao động ở mức 190.000-200.000 đồng/kg đang tiếp tục kéo dài cơn sốt hồ tiêu nơi có diện tích trồng tiêu lớn nhất nước này. Theo quy hoạch của tỉnh, đến năm 2020 diện tích hồ tiêu trên toàn tỉnh ở mức 6.000ha nhưng chỉ mới đến giữa năm nay đã vượt lên 10.000ha.

Chia sẻ về thực trạng này, phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai Lê Văn Lịnh nói: “Còn năm năm nữa mới tới thời điểm chốt của quy hoạch hồ tiêu toàn tỉnh nhưng đến giờ đã có tới gần 10.000ha hồ tiêu rồi. Chúng tôi cố gắng khống chế, khuyến cáo người dân nhưng không thể kiểm soát được”.

Ông Lịnh cũng nói hiện nay tỉnh Gia Lai chưa có một nhà máy chế biến hồ tiêu tập trung nào, đầu ra cho sản phẩm lẫn các công tác hỗ trợ khuyến nông đi kèm (bảo vệ thực vật, phòng chống dịch bệnh, tìm kiếm thị trường...) chưa thật sự mạnh nên việc hồ tiêu vỡ quy hoạch đang tạo ra những nguy cơ trước mắt: được mùa rớt giá, mất mùa được giá.

Gia Lai có vùng chuyên canh hồ tiêu nổi tiếng, đã tiến hành thủ tục đăng ký bảo hộ thương hiệu hồ tiêu Chư Sê. Ở địa phương này, cây tiêu đã giúp nông dân đổi đời, nhiều hộ gia đình thu nhập tiền tỉ từ các vườn hồ tiêu. Ông Hồ Phước Bính - đại diện Hiệp hội Hồ tiêu Chư Sê (huyện Chư Sê) - cho biết hiện diện tích hồ tiêu của riêng Chư Sê đã lên tới gần 2.500ha.

Theo tính toán của người dân ở đây, trung bình 1ha tiêu thụ được từ 700-800 triệu đồng, trừ chi phí nắm chắc trong tay 400-500 triệu đồng. Hấp lực này khiến rất nhiều hộ nông dân tại các huyện Chư Sê, Chư Prông, Đắk Đoa, Đức Cơ... của tỉnh Gia Lai đã chặt bỏ các vườn cây khác chuyển qua trồng hồ tiêu.

Tuy nhiên, cũng có nhiều hộ dân nếm trái đắng từ việc chuyển qua trồng loại cây này. Ông Lê Đình Hân, nông dân ở thôn 5, xã Ia Pal, huyện Chư Sê, cho biết trước đây trồng 900 trụ tiêu, thu về hàng trăm triệu đồng mỗi vụ. Đến năm 2009, gia đình tăng thêm gần 1,5ha trồng hồ tiêu. Nhưng rồi “quả đắng” hồ tiêu bắt đầu ập đến. “Gần 900 trụ tiêu của tôi đã bị nhiễm bệnh chết, bao nhiêu tiền của, công sức ra đi” - ông Hân nói.

Thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Gia Lai cho thấy năm 2012 và 2013 toàn tỉnh có gần 500ha tiêu bị chết do nhiễm bệnh nấm, chỉ riêng năm 2014 diện tích tiêu chết đã lên trên 600ha và đang có xu hướng tăng.

THÁI BÁ DŨNG
NGUYỄN ĐÌNH BÍCH
Theo Tuoitre Online

    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com