Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

9/10/15

Các thuốc có chứa thành phần kim loại đồng (tên khoa học Copper) được gọi là thuốc nhóm gốc đồng, thuốc gốc đồng có phổ tác dụng rộng có thể phòng trừ được nhiều loại bệnh gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau. Dung dịch thuốc Boóc-đô (Bordeaux) 1% được dùng để phòng trừ nhiều loại bệnh hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau chủ yếu do nấm hay vi khuẩn gây ra như bệnh thán thư, bệnh gỉ sắt hại lá cà phê hay bệnh chết nhanh chết chậm, tiêu điên trên cây hồ tiêu và các bệnh lở loét, thối thân, xì mũ trên các cây ăn quả cũng như cây công nghiệp khác…
Cách pha để cho ra 200lít dung dịch Boóc-đô
Cơ chế tác động của thuốc gốc đồng là chất đồng có thể xâm nhập vào tế bào vi sinh vật, ức chế các phản ứng sinh học trong tế bào làm chết vi sinh vật. Các hợp chất thường dùng để sản xuất thuốc gốc đồng phòng trừ bệnh hại cây trồng là:

Copper Oxychloride (một số sản phẩm: COC 85WP, Đồng cloruloxi 30WP, Epolists 85WP, Vidoc 30WP,50SC,80WP…) Copper Oxychloride có phản ứng trung tính nên có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu, bệnh khác.

Copper Hydroxide (một số sản phẩm: Map – Jaho 77WP, Champion 37.5FL, 57.6DP, 77WP, Ajily 77WP, Funguran - OH 50WP … ) Copper Hydroxide có phản ứng trung tính nên có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu, bệnh khác.

Copper Sulfate (Tribasic) (một số sản phẩm: Đồng Hocmon 24.5% crystal, BordoCop Super 12.5WP, 25WP, Cuproxat 345SC. ..) có phản ứng acid (chua) nhẹ nên có thể pha chung với nhiều loại thuốc sâu, bệnh khác.

Copper Sulfate nguyên chất hay Sulfat đồng, bà con nông dân thường gọi phèn xanh có phản ứng acid (chua) nên khi sử dụng riêng để phòng trừ bệnh cho cây trồng thường dễ gây hại cho cây trồng (cháy lá, hại cho hoa). Vì vậy không nên dùng riêng để phun mà hỗn hợp với vôi thành thuốc có tên gọi là bordeaux (Boóc-đô).

Nguyên liệu để pha chế dung dịch thuốc Boóc-đô là Ca(OH)2 (vôi sống hay còn gọi là vôi tươi) và CuSO4 (sulfat đồng) là những thứ rất dễ kiếm. Khi pha dung dịch sulfat đồng với nước vôi sẽ cho ra dung dịch thuốc Boóc-đô có màu xanh da trời, không mùi. Dung dịch Boóc-đô tương đối ít độc với người và gia súc, gia cầm nhưng rất độc với cá (nên không phun xuống ruộng có nuôi cá kết hợp, không rửa bình xịt hay đổ thuốc dưới ao hồ).

Boóc-đô có thể được pha chế theo nhiều nồng độ và nhiều phương pháp khác nhau. Tuỳ theo liều lượng, cách pha chế mà nước thuốc Boóc-đô có màu sắc và phẩm chất khác nhau. Thông dụng nhất là nồng độ 1% (1:1:100).

Muốn pha chế dung dịch thuốc Boóc-đô nồng độ 1%, bà con thực hiện theo cách tốt nhất như sau:

Để có 10 lít nước thuốc, lấy 100 gram sulfat đồng hoà tan với 8 lít nước sạch trong dụng cụ chứa (chậu, xô, lu, vại… bằng nhựa, sành sứ… không dùng dụng cụ chứa bằng kim loại do dễ bị thuốc ăn mòn, làm thủng). Tiếp theo, lấy 100 gram vôi sống hoà tan trong 2 lít nước trong một dụng cụ khác (nếu là vôi đã tôi thì dùng khoảng 130 gram).

Hoặc:
/* Bà con muốn có 200 lít dung dịch thì cần:  2 kg Sulfat đồng (CuSO4) hoà tan với 160 lít nước; 2kg vôi sống hòa tan với 40 lít nước. */
Sau khi đã có dung dịch sulfat đồng và nước vôi, đổ từ từ dung dịch sulfat đồng vào nước vôi, vừa đổ vừa khuấy đều tay. Chú ý phải làm tuần tự như trên, không được đổ ngược lại, tức là không được đổ dung dịch nước vôi vào dung dịch sulfat đồng vì nước vôi sẽ bị kết tủa, không hòa tan được. Xem thêm  hình ở trên.


Kiểm tra dung dịch vừa pha chế:

Lấy một cây đinh khoảng 5 phân, còn mới hoặc đã được mài bóng (cũng có thể lấy một con dao mỏng bằng sắt mài sáng ở mũi) nhúng vào nước thuốc vừa pha khoảng một phút. Lấy đinh (hoặc mũi dao) ra, sẽ thấy có một lớp màu gạch cua bao phủ ở trên đinh (mũi dao), để ra ngoài không khí một lát, nếu lớp đó chuyển sang màu đen thì nước thuốc còn chua (độ pH thấp) dễ gây hại cho cây trồng. Điều chỉnh bằng cách thêm nước vôi từ từ cho đến khi nào thử lại không thấy hiện tượng bị đen như trên mới đạt yêu cầu (có thể thử bằng giấy quỳ, độ pH kiềm là đạt).

Để thuốc có tác dụng tốt, phải kiểm tra bệnh thường xuyên, khi thấy bệnh chớm phát sinh thì phải phun thuốc kịp thời. Nếu để trừ bệnh thì phun 7-10 ngày 1 lần, nếu để phòng bệnh thì phun 1 tháng 1 lần. Phun thuốc bám đều trên cả hai mặt lá, trên cành và thân.

Lưu ý:

-Cần dự trù lượng thuốc sử dụng vừa đủ trong ngày. Không nên pha chế quá nhiều, để qua ngày sau thuốc sẽ mất phẩm chất. Tốt nhất là dùng đến đâu pha thuốc đến đó.

-Không phun thuốc vào lúc trời mưa, nhiều sương, ẩm ướt, trời nắng gắt hoặc lúc cây đang ra hoa. Tốt nhất là phun vào buổi sáng và chiều khi trời đã dịu nắng.

-Không nên phun cho những cây mẫn cảm với thuốc…

8/10/15

Ba vấn đề cốt lõi nhất của mặt hàng tiêu là thứ nhất - làm thế nào để sản xuất được tiêu sạch, thứ hai - tránh được dịch bệnh và thứ ba là giữ được sự cân bằng cung cầu của thị trường...

Xem bản tin được thực hiện bởi VTV
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 9 năm 2015 ước đạt 7 nghìn tấn, với giá trị đạt 66 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 9 tháng lên 110 nghìn tấn với giá trị 1,04 tỷ USD, giảm 21,2% về khối lượng và giảm 1,3% về giá trị.
Ảnh minh họa (Ảnh: K.V)
Giá tiêu xuất khẩu bình quân 8 tháng năm 2015 đạt 9.420 USD/tấn, tăng 26,35% so với cùng kỳ năm 2014. Các thị trường xuất khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam là Hoa Kỳ, các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống Nhất và Singapore với 37,89% thị phần. Các thị trường có giá trị tăng mạnh là Đức (35,27%), Hàn Quốc (53,34%), Tây Ban Nha (27,79%) và Anh (24,23%).

Tại thị trường trong nước, giá thu mua hạt tiêu trong nước tháng 9 biến động giảm sau khi tăng vào tháng trước. Mặc dù nguồn cung hồ tiêu trên thị trường thế giới vẫn đang thắt chặt, nhưng giá tiêu tại Ấn Độ giảm những ngày qua do nước này xả bán loại tiêu bị cáo buộc nhiễm bẩn đã kéo giá tiêu của Việt Nam xuống theo.

Hiện giá thu mua tiêu tại các tỉnh trồng tiêu trọng điểm Gia Lai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đắk Lắk, Bình Phước lần lượt ở mức 193.000 đồng/kg, 198.000 đồng/kg, 193.000 đồng/kg, 195.000 đồng/kg, trung bình giảm 6.000-7.000 đồng/kg so với tháng trước.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm nay, thị trường tiêu Việt Nam luôn nóng, giá biến động cả tăng và giảm trước những thông tin về nguồn cung đưa ra thị trường. Có thời điểm, nông dân trông tiêu trữ trữ hàng chờ giá tăng cao để kiếm lời. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đến thời điểm này, nông dân trồng tiêu đã bán đi khá nhiều và hiện tiêu do nông dân trữ lại chỉ còn khá ít./.

Theo kinhtenongthon.com.vn

6/10/15

Theo thống kê của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Phước, hiện tại tỉnh Bình Phước có gần 1.800ha hồ tiêu của người dân bị nhiễm bệnh vì mưa nắng bất thường, trong đó tập trung nhiều nhất ở các huyện Bù Gia Mập, Bù Đốp và Lộc Ninh.
Hình minh họa
Phần lớn tiêu của nông dân nhiễm các loại bệnh như: Rệp sáp, tuyến trùng, bệnh chết chậm… Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Phước đã đưa ra khuyến cáo nông dân nên chủ động phòng diệt sâu bệnh bằng cách thường thăm vườn để phát hiện kịp thời sâu bệnh. Khi phát hiện tiêu bệnh, nông dân cần dùng vôi bột rải quanh vườn, phun thuốc Ridomil Gold 68WP và Alpine 80WP.

Tân Tiến
Theo Dân Việt
Ngày 10.1, Sở KH-CN tỉnh Đồng Nai cho biết Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) vừa cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đối với sản phẩm hồ tiêu Xuân Lộc (Đồng Nai), mở ra cơ hội lớn cho sản phẩm hồ tiêu của địa phương này phát triển thương hiệu trên thị trường, nâng cao giá trị kinh tế.


Cơ hội cho người trồng tiêu, khi sản phẩm được đăng ký nhãn hiệu hàng hóa
Theo UBND H.Xuân Lộc, tổng diện tích trồng tiêu hiện nay trên toàn huyện khoảng 2.800 ha (tăng 353 ha so với năm 2014) tập trung nhiều ở các xã Suối Cao, Xuân Thọ, Xuân Bắc, Xuân Trường, Xuân Hiệp, Lang Minh…Trong đó diện tích cho thu hoạch là gần 2.000 ha, năng suất bình quân khoảng 30 tạ/ha, doanh thu đạt từ 300-600 triệu đồng/ha.


Tin và ảnh: Lê Lâm
Theo: thanhnien.com.vn

2/10/15

Hiện tượng thời tiết El Nino, dự báo sẽ đạt đỉnh trong mùa đông đến đây, có thể là một trong những hiện tượng có cường độ cao nhất theo quan sát từ năm 1950. Sản xuất nông nghiệp và khai thác khoáng sản có thể bị nhiễu loạn. Liệu hiện tượng này có khởi sự cho một đợt tăng giá hàng hóa mới?

Sau nhiều tháng giá giảm, thị trường hàng hóa nguyên liệu đang được báo động trở lại. Hiện tượng thời tiết ai cũng lo sợ, El Niño đã “thân hành” quay lại trong năm nay sau khi dự báo giả trong năm 2014. Dòng hải lưu nóng trên Thái bình dương ở khu vực xích đạo đã xuất hiện vào mùa xuân vừa qua. Dự kiến cường độ tối đa của nó sẽ hoành hành trong đoạn từ giữa tháng mười và tháng giêng và thậm chí kéo dài đến hết quý I năm 2016, Tổ chức Khí tượng Thế giới cảnh báo như vậy. Lo ngại hơn nữa là El Nino năm 2015 có thể là một trong 4 đợt El Nino dữ dội nhất kể từ  1950 đến nay.

Hiện tượng thời tiết này dẫn đến hiện tượng gia tăng nhiệt độ bất thường mặt nước biển ở phía đông khu vực miền trung trên vùng Thái Bình Dương. Năm nay, các nhà dự báo nhận định nền nhiệt độ đó có thể tăng 2 độ C so với bình thường. Rối loạn này thường dẫn đến lượng mưa trên bờ biển phía tây của Mỹ Latinh tăng và hạn hán ở châu Đại Dương và Đông Nam Á. El Nino cũng có thể gây ra mưa lớn hoặc lũ lụt ở vùng Sừng châu Phi, nhưng phần phía nam của lục địa khô hơn.

“Ấn Độ, Indonesia, Malaysia … tất cả đều chịu tác ảnh hưởng, El Niño đặc biệt là ở Đông Nam Á nơi dễ bị hạn hán và giảm lượng mưa rào”, Benjamin Louvet chuyên gia tại Prim’Finance giải thích như vậy. Chịu ảnh hưởng bởi lượng mưa thấp hơn bình thường, Ấn Độ, nước sản xuất đường lớn thứ hai, chắc ​​sẽ thất mùa đường trong các niên vụ 2015/2016 và 2016/2017 tới đây. Lượng mưa thiếu gây hỗn loạn các vụ mùa nông sản Thái Lan, một trong những nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Sản lượng gạo năm nay của nước này ước xống mức thấp nhất kể từ 2004/2005 và xuất khẩu dự kiến ​​giảm 15% năm nay, ghi nhận mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho biết. “Gạo là lương thực chính cho hơn 50% dân số thế giới mà thiếu thì bao nhiêu chuyện xảy ra”, vị chuyên gia nói. Sản lượng dầu cọ ở Malaysia cũng sẽ bị ảnh hưởng. “Giá dầu cọ có thể tăng, kéo theo những loại dầu khác, trong đó có dầu cải, giá loại này căng thẳng mấy bữa rày,” Benjamin Louvet nói.

Sản lượng  ca cao ở Tây Phi (nơi tập trung hơn 60% sản lượng) có thể bị ảnh hưởng, giống như cà phê tại Brazil. “Tuy nhiên, tác động sẽ hạn chế hơn trong các khu vực này,” Prim’Finance trấn an. Tương tự cho ngũ cốc: “Hạn hán sẽ ảnh hưởng đến sản lượng lúa mì của Úc, nhưng đồng thời, El Niño sẽ đem lại thời tiết tốt hơn ở Bắc Mỹ nên năng suất tốt hơn, có lợi cho nông dân vùng này khi nền giá nông sản nói chung tăng,” Benjamin Louvet nhận định.

Các nước sản xuất nông nghiệp không phải là những nơi duy nhất chịu ảnh hưởng hiện tượng khí hậu này. El Niño có tác động gián tiếp vào việc sản xuất quặng, mà đồng và bạc ở hàng đầu. Thời tiết khô hạn nhất trong khu vực Đông Nam Á dẫn đến giảm sản lượng thủy điện và công suất điện làm ra không đủ bảo đảm cho hoạt động khai thác mỏ. Hơn nữa, mực nước sông suối hạ có thể cản trở việc vận chuyển khoáng sản. Ngược lại, ở vùng Mỹ Latinh, lũ trên bờ tây nhiều làm người ta lo sợ phải đóng cửa mỏ ở Peru hoặc Chile.

Tóm lại, hệ quả của biến đổi khí hậu qua El Nino có thể giúp giá nguyên liệu tăng trở lại. Giá hàng hóa nguyên liệu từ 2011 đến nay liên tục giảm, đặc biệt trong mấy tháng gần đây dội xuống sâu nữa do tăng trưởng kinh tế Trung Quốc chậm lại và nguồn cung dồi dào. Nhưng đừng nên lo lắm cho giá hàng hóa nay mai, các nhà phân tích cảnh báo. “Đợt đầu, có thể giá bình quân sẽ tăng từ 5 đến 15%, nhưng không tăng phổ biến kể cả bất ngờ cho tất cả các loại hàng hóa. Nếu như El Nino hiện xảy ra không gặp một biến chyển nào khác gây bất ngờ lên thị trường như tền tệ, chính sách…” Benjamin Louvet nói. “Thật vậy, nhìn chung thị trường đang có hướng thuận lợi hơn so thời kỳ 2008/2011. Chính vì vậy, người tham gia thị trường đang theo dõi kỹ càng hiện tượng El Nino để có những ước báo chính xác để phản ứng và quyết định đúng, ” ông ta khuyên vậy.

Phạm Kỳ Anh, theo Le Figaro 8-9-2015

KỸ THUẬT CHẾ BIẾN VỎ CÀ PHÊ 
THÀNH PHÂN HỮU CƠ

 
Hướng dẫn chế biến

Nguyên vật liệu

  •     Nguyên liệu chính để chế biến phân sinh học là khoảng 1.000 kg vỏ quả cà phê được lấy từ quá trình xay xát tạo ra 3.000 kg cà phê nhân.
  •     Phân chuồng: 200 kg
  •     Phân lân nung chảy: 50 kg
  •     Phân urê: 10 kg
  •     Vôi bột: 15 kg
  •     Đường cát: 2 kg
  •     Men sinh học: 2 kg

Ghi chú:

Men sinh học nhiều loại khác nhau:

    – Loại men sinh học có thành phần chính là vi sinh vật phân huỷ xen-lu-lô, protein, chất khử mùi hôi thối
    – Loại men sinh học có thành phần chính là nấm Trichoderma, xạ khuẩn Streptomyces


Bà con có thể theo dõi bài viết về men sinh học và tìm mua theo bài viết sau đây:

    Quy trình xử lý vỏ cà phê

Lao động

Cần 5 công lao động để chia 2 đợt để hoàn thành công việc chế biến này:

    Đợt 1: cần 3 công để hoàn thành xong đống ủ
    Đợt 2: sau đợt 1 là 40 ngày cần 2 công lao động để đảo lại đống ủ

Dụng cụ


Chuẩn bị các dụng cụ sau đây đủ để thực hiện công việc này:

  •     Cuốc: 02 cái
  •     Xẻng: 02 cái
  •     Cào xới: 02 cái
  •     Thùng chứa 500 lít nước: 01 cái
  •     Xoa tưới nước; 01 cái
  •     Bơm nước: 01 cái
  •     Ống nước: đủ dài để dẫn nước từ nguồn nước đến nơi chế biến
  •     Bao, bạt cũ: đủ để che toàn bộ đống ủ

Hoạt hoá men sinh học

Từ 4 đến 5 giờ trước khi tiến hành chế biến, bơm khoảng 500 lít nước sạch vào thùng chứa và lấy từ nguyên liệu đã chuẩn bị:

  •     Toàn bộ men sinh học: 02 kg
  •     Đường cát: 02 kg
  •     Phân urê: 200 gam hay 0,2 kg

Sau đó, cho toàn bộ men sinh học, đường, và phân urê vào thùng chứa nước nói trên và khuấy đều cho tan hết. Công việc này được lặp lại sau 1 giờ và tiến hành khuấy ít nhất là 4 lần để men sinh học có thể hoạt hoá hoàn toàn làm phân giải nhanh vỏ quả cà phê khi ủ.

Thực hiện chế biến

Phối trộn nguyên vật liệu khô


  •     Vỏ quả cà phê được trải đều trên mặt đất dày khoảng 40 cm
  •     P hân chuồng vãi đều trên bề mặt vỏ quả cà phê
  •     Lượng phân urê (9,8kg) còn lại được vãi đều trên mặt đống nguyên liệu vỏ cà phê và phân chuồng
  •     Tiếp theo vãi phân lân nung chảy và vôi bột Sau khi đã cho tất cả nguyên liệu vào với nhau thì tiến hành đảo đống nguyên liệu này để cho tất cả các thành phần được trộn thật đều với nhau.

Nguyên liệu khô đã được trộn đều với nhau thì tiến hành vừa tưới nước đống nguyên liệu vừa trộn để cho nước có thể làm ướt hoàn toàn đống ủ. Nếu chỉ tưới nước mà không tiến hành trộn cùng lúc thì chỉ có lớp mặt đống nguyên liệu bị ướt, các lớp dưới không ướt đều sẽ không phân giải khi ủ. Lượng nước tưới ướt khoảng 70 – 80% thành phần đống nguyên liệu là đủ, nếu tưới nhiều nước quá phân urê, phân lân và vôi có thể bị rữa trôi nhiều.

Khi đống nguyên liệu được làm ướt hoàn toàn thì để yên khoảng 15 đến 20 phút cho nước, phân thấm đều vào tất cả thành phần của nguyên liệu. Sau đó, tưới nhẹ đống nguyên liệu này lần nữa để bảo đảm tất cả thành phần của đống nguyên liệu đã được thấm ướt hoàn toàn, và tiếp theo tiến hành chất đống ủ và phối trộn men sinh học đã được hoạt hoá cho đống nguyên liệu. Công việc được thực hiện như sau:

– Dọn sạch và làm bằng vị trí để chất đống ủ

– Trải lên mặt đất một lớp rơm rạ, hay vỏ quả cà phê đã tưới ướt dày khoảng 10 cm

– Chất nguyên liệu đã trộn ướt thành lớp dày 20 cm đến 25 cm, rộng từ 2 mét đến 2,5 mét, và dài tùy ý.

– Khuấy đều dung dịch men đã hoạt hoá và dùng xoa múc tưới đều trên mặt lớp nguyên liệu.

– Công việc chất lớp nguyên liệu ướt và tưới men đã hoạt hoá được tiếp hành liên tục cho đến khi hoàn thành.

– Đống ủ khi hoàn thành phải có chiều cao tối thiểu là 1,2 m, và rộng từ 2 mét đến 2,5 mét để bảo đảm đống ủ có thể giữ nhiệt cho quá trình phân giải.

– Khi đống ủ đã được chất hoàn toàn thì dùng rơm rạ, hay vỏ quả cà phê ướt phủ lên bề mặt đống một lớp mỏng từ 10 cm đến 20 cm, tiếp theo tưới nhẹ nước lên toàn bộ đống ủ, và cuối cùng dùng bao, bạt cũ hay tấm nilon che phủ kín toàn bộ đống ủ để giữ ẩm và nhiệt độ cho đống ủ.

Chú ý: Tấm bạt, nilon phải đè chèn bằng vật nặng để khỏi bị gió cuốn đi.

Kiểm tra sau khi ủ

Khoảng 15 ngày sau khi ủ, thì tiến hành kiểm tra đống ủ, dùng cuốc moi một hố sâu vào tâm đống ủ và nhận thấy có rất nhiều nấm men vi sinh trắng bám trên bề mặt nguyên liệu và nhiệt độ của đống ủ có thể lên đến 80oC có tác dụng phân huỷ nguyên liệu và tiêu diệt mầm bệnh. Đồng thời, đống ủ cũng bị thiếu ẩm (bị khô), nên cần phải tưới thêm nước sao cho nước có thể làm ướt đều đống ủ. Sau đó, gom chất đống và che đậy lại.

Đảo trộn, chất đổng ủ lần 2 Sau khi kiểm tra từ 25 đến 30 ngày, hay 40 đến 45 ngày ủ, thì dở toàn bộ bao, bạt, tấm nilon che phủ và tiến hành đảo trộn thật đều toàn bộ đống ủ, vừa trộn vừa tưới nước đủ để thấm đều hoàn toàn nguyên liệu. Khi đã trộn xong nên tiến hành gom, chất và giẫm nén nguyên liệu thành đống có chiều cao tối thiểu là 1 mét và dùng bao, bạt, tấm nilon đậy kín lại như lần đầu.

Kiểm tra lần cuối

Khi tổng số ngày ủ được 110 đến 120 ngày, hay sau khi ủ lại được 70 đến 80 ngày, kiểm tra đống ủ thấy nguyên liệu đã mềm và nát thì có thể sử dụng để bón cho cây trồng được.

Chú ý: Luôn kiểm tra độ ẩm của đống ủ, nếu thấy khô, phải tưới thêm nước. Đôi khi ở lớp ngoài và bề mặt trên của đống ủ rất ẩm, nhưng bên trong thì rất khô, nên phải tưới nước để đống ủ ẩm hơn cho vi sinh vật hoạt động tốt, nguyên liệu mau hoai mục.
 
Khối lượng phân hữu cơ sinh học được tạo thành


Với thành phần, khối lượng nguyên liệu được sử dụng thì sau khi chế biến, phân giải thu được khoảng 1.300 – 1.400 kg phân hữu cơ sinh học với ẩm độ từ 20 đến 25% trọng lượng.

Trung tâm khuyến nông tỉnh Đăk Lăk

1/10/15

Bệnh thối gốc do nấm Phytophthora capsici là một trong những trở ngại chính trong sản xuất hồ tiêu tại Ấn Độ. Những giống năng suất cao nhạy cảm với bệnh này. Nhiều nghiên cứu đã tiến hành để quản lý tổng hợp về bệnh này.

Hai thí nghiệm ngoài đồng được thực hiện trong giai đoạn 1999-2001 tại trạm nghiên cứu rau hoa quả ở Ấn Độ. Thí nghiệm trên giống tiêu Paniyur-1, gồm 10 nghiệm thức và 4 lần lặp lại. Mỗi lần lặp lại có 10 cây. Các nghiệm thức gồm:

T1: Pseudomonas fluoresens (công thức thương mại) phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T2: Bánh neem 1kg/trụ, bón vào đất trước mùa mưa
T3: Hỗn hợp Booc-đô 1%, phun qua lá và tưới vào đất trước và sau mùa mưa
T4: Metalaxyl MZ. 0,1%, phun qua lá và tưới vào đất trước và sau mùa mưa
T5: Bánh neem 1kg/trụ, bón vào đất trước mùa mưa + Metalaxyl MZ. 0,1%, phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T6: Hỗn hợp Booc-đô 1%, phun qua lá và tưới đất trước mùa mưa + Pseudomonas fluoresens, phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T7: Metalaxyl MZ. 0,1%, bón qua lá và tưới vào đất trước mùa mưa + Pseudomonas fluoresens, phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T8: Bánh neem 1kg/trụ, bón vào đất trước mùa mưa + Booc-đô 1%, bón vào đất và phun qua lá trước mùa mưa + Pseudomonas fluoresens, phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T9: Bánh neem 1kg/trụ, bón vào đất trước mùa mưa + Metalaxyl 0,1%, phun qua lá và tưới đất trước mùa mưa + Pseudomonas fluoresens, phun qua lá (0,5%) và tưới vào đất (1%) trước và sau mùa mưa
T10: Đối chứng
Các chỉ tiêu theo dõi gồm chỉ số bệnh trên lá, cành, và chùm quả và những yếu tố cấu thành năng suất (số hạt/chùm quả, năng suất hạt tươi/trụ, năng suất hạt khô/trụ). Trong quá trình theo dõi không sử dụng bất kỳ thêm thuốc trừ nấm bệnh nào khác.

Kết quả cho thấy nghiệm thức T9 gồm bánh neem 1kg/trụ bón vào đất cộng với áp dụng bón vào đất và phun qua lá Metalaxyl 0,1% trước mùa mưa và kết hợp với P. fluorescens phun qua lá (0,5%) và bón vào đất (1%) trước và sau mùa mưa có chỉ số bệnh thấp nhất trên lá, cành và chùm quả theo thứ tự là 2,12%; 2,76% và 6% so với đối chứng lần lượt là 17,24%; 18,80% và 21,3%. Nghiệm thức này cũng không có triệu chứng héo cây so với 10% ở nghiệm thức đối chứng. Tiếp theo là nghiệm thức gồm Metalaxyl MZ. (0,1%) xử lý đất và phun qua lá trước mùa mưa cộng với P. fluorescens xử lý đất và phun qua lá trước và sau mùa mưa (T7) được ghi nhận tỷ lệ bệnh nhiễm trên lá, cành và trên chùm quả theo thứ tự là 3,94; 5,04 và 6,60 (%).

Kết quả về năng suất cho thấy rằng nghiệm thức T9 gồm Bánh neem bón vào đất cộng với P. fulorescens phun qua lá và bón vào đất trước và sau mùa mưa cho kết quả cao nhất về số trái/chùm quả (104,8), năng suất quả xanh/trụ (4,85kg), năng suất hạt khô/trụ (1,6kg/trụ) so với đối chứng lần lượt là 70,2; 3,05; và 1,0. Điều này cho thấy năng suất hạt khô của nghiệm thức T9 cao hơn đối chứng 59,3%. Kết quả thấp nhất được ghi nhận ở nghiệm thức thử nghiệm là nghiệm thức chỉ dùng bánh neem có số quả/chùm quả (73,2), năng suất quả xanh/trụ (3,18kg), và năng suất hạt khô/trụ (1,05 kg).

Như vậy, kết quả bón bổ sung chất nền vào gốc trộn trong đất (Bánh neem) làm gia tăng các tác nhân phòng trừ sinh học trong vùng rễ (Papavizas và Lewis, 1983). Tác giả Ramachandran và ctv. (1991) cho rằng Metalaxyl có hiệu quả cao trong việc kiềm chế sự gia tăng mật số của P. capsici . Khi áp dụng Bánh neem 1 kg/trụ làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh thối gốc do Phytophthora rất đáng kể. Tác giả Mammootty và ctv. (1991) báo cáo tỷ lệ nhiễm bệnh thối gốc hồ tiêu rất cao trong tháng Bảy (39.08 %) là khi có lượng mưa, số ngày mưa và độ ẩm tương đối cao. Do đó, bệnh thối gốc do nấm Phytophthora xảy ra nhiều trong thời kỳ gió mùa Đông Bắc gây mưa ở vùng này (Tamil Nadu, India). Các tác giả Blakeman và Fokkema, (1982), cho rằng trước mùa mưa xử lý P. fluorescens làm gia tăng gấp bội tác nhân đối kháng sinh học trong môi trường phylloplane (theo định nghĩa sinh thái học Phylloplane là bề mặt lá được xem là môi trường sống của hệ vi sinh vật, còn được gọi là phyllosphere). Cơ chế này có thể do P. fluorescens tác động đối với nấm P. capsici làm giảm mật số nấm bệnh dẫn giảm tỷ lệ bệnh.

Đánh giá về tỷ suất lợi nhuận/chi phí đạt cao nhất (1: 2,14) ghi nhận ở nghiệm thức P. fluorescens (T1) áp dụng vào đất và phun qua lá trước và sau khi mưa và theo sau là nghiệm thức kết hợp nghiệm thức này với hỗn hợp Booc-đô (1%) (T6) xử lý đất và phun qua lá trước và sau khi mưa (1 : 1,74).

Tóm lại, áp dụng Metalaxyl 0,1% trước mùa mưa + Bánh neem 1kg/trụ (T7) và nghiệm thức P. fluorescens phun qua lá và bón vào đất trước và sau mùa mưa (T9) có hiệu quả quản lý bệnh thối gốc đối với cây hồ tiêu là một cây mà Ấn Độ định hướng mạnh cho xuất khẩu và được mệnh danh là “vàng đen” trong việc thu nhập ngoại tệ cho đất nước. Áp dụng Metalaxyl 0,1% trước gió mùa Đông Bắc+ bánh nêm 1kg/trụ + P. fluorescens phun qua lá và bón vào đất trước và sau gió mùa Đông Bắc (T9) có hiệu quả quản lý bệnh thối gốc và đạt năng suất cao, trong khi đó tỷ lệ lợi nhuận/chi phí đạt cao nhất cho nghiệm thức P. fluorescens + Booc-đô (T6).

M. Jayasekhar, J.Prem Joshua, và C. Gailce Leo Justin
Trạm Nghiên cứu Rau quả, Đại học Nông nghiệp Tamil Nadu, Ấn Độ

ThS. Nguyễn Tiến Hải, Phòng NC Cây Công Nghiệp (Lược dịch).
Mr Nguyễn Thanh Sơn
 Trăn trở trước những nỗi bức xúc của bản thân cũng như của các doanh nhân về vấn đề thương hiệu và chiến lược xây dựng thương hiệu một cách hiệu quả cho sản phẩm Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực nông sản, ông Nguyễn Thanh Sơn, Tổng giám đốc T&A Ogilvy, có những chia sẻ sau.

“Đi sang Anh, mình ấm ức nhất là gạo trong siêu thị thì thương hiệu là của Thái, bao bì là của Thái, nhưng ruột thì là gạo của mình. Tức vậy mà đâu có làm gì được!”- chị T. một lãnh đạo của Công ty Lương thực Tiền Giang, than thở như vậy với các chuyên gia tư vấn của chương trình Thương hiệu Quốc gia. “Tại sao mình không làm thương hiệu?”. “Thì có làm rồi đó, hồi những năm còn bán được, có doanh thu, cũng đã bỏ nhiều tiền ra làm thương hiệu, làm lại bao bì, nhưng không có hiệu quả, hàng của mình vẫn không vào được các thị trường khó tính. Mấy năm nay, doanh thu thấp, đành bỏ lửng, thua càng thua thêm”- chị T. buồn buồn cho biết.

Có lẽ trong các câu chuyện xây dựng thương hiệu, thì xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp luôn luôn là câu chuyện “biết rồi khổ lắm nói mãi”. “Biết rồi” vì ai cũng hiểu là một nước nông nghiệp, với các sản phẩm đặc trưng, nhưng những sản phẩm nông nghiệp của chúng ta không chỉ nằm chờ ở các cửa khẩu mà còn bị lép vế trên chính bàn ăn của người Việt Nam, nhất là khi chúng ta hội nhập sâu thêm vào kinh tế thế giới với AEC và sắp tới là TPP. “Khổ lắm” là bởi vì đã có khá nhiều những thử nghiệm cho việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp, nhưng phần lớn đều chưa thành công, trừ việc gây ra một chút “phong thanh” khi ra mắt. “Nói mãi” bởi vì có quá nhiều các cuộc hội thảo, hội nghị, nhưng hầu hết đều chưa đưa ra được một chiến lược nhất quán cho việc xây dựng thương hiệu hàng nông sản Việt Nam, và cùng với nó là một hành động cụ thể.

Nhưng chính vì vậy, phải chăng cái chúng ta cần không phải là một chiến lược nhất quán cho tất cả các thương hiệu nông sản, mà là “hãy làm đi” (Just Do It)! Khi Việt Nam mới mở cửa, vào khoảng những năm 1995-1996, tôi đã bày tỏ nghi ngại khi Mark Barnett thành lập Công ty Pacific Basin Partnership (PBP) ở Việt Nam nhằm thu mua hương liệu, chủ yếu là quế để xuất sang Mỹ. “Tôi biết về hương liệu. Việt Nam có những hương liệu tốt hàng đầu thế giới. Đây sẽ là một doanh nghiệp thành công” - Mark chỉ nói đơn giản có vậy, nhưng tôi biết, những gì ông làm ở Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua phải nói là quá lớn lao: PBP trở thành nhà cung cấp hương liệu quế và tiêu hàng đầu từ Việt Nam ra thế giới. Nếu như cần tìm một chuyên gia về xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam ra thế giới, không cần đi tìm đâu xa, hãy hỏi Mark Barnett. Các bạn, chắc cũng như tôi, chỉ thấy hơi nuối tiếc khi phải hỏi một người Mỹ về kinh nghiệm xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam.

Vì sao cho dù đã bỏ khá nhiều tiền, nhưng cố gắng bứt phá của những công ty như Công ty Lương thực Tiền Giang vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn? Đó là bởi, có một khoảng cách rất lớn giữa suy nghĩ của những người xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông sản cho những công ty như Công ty Lương thực Tiền Giang và người tiêu dùng ở những thị trường phát triển. Trong khi, những nhà làm thương hiệu chỉ mới suy nghĩ về một cái tên hay ho, một logo ấn tượng, một dạng bao bì bắt mắt rồi quảng bá chúng trên các phương tiện truyền thông đại chúng thì người tiêu dùng lại nghĩ khác. Cái họ quan tâm là sản phẩm này xuất xứ ra sao, được sản xuất như thế nào, và liệu tôi có thể tin tưởng nó? Và ai là người đã tạo ra những sản phẩm này, họ có được đối xử tốt, liệu họ có biết canh tác bền vững, liệu việc sản xuất này có ảnh hưởng đến hệ sinh thái của khu vực mà họ đang sống? Người tiêu dùng ở các thị trường như châu Âu và châu Mỹ có sự khắt khe hơn nhiều đối với các sản phẩm sẽ đặt lên trên bàn ăn của họ. Những người làm thương hiệu nông sản liệu có biết những tiêu chuẩn của BSCI (Business Social Compliance Initiative), FLO (Fairtrade Labeling Organization International) Global GAP, IFOAM (International Federation of Organic Agricultural Movements), ProTerra, Rainforest Alliance, UTZ Certified... quan trọng ra sao đối với người tiêu dùng ở các thị trường ngoài Việt Nam? Họ không chỉ quan tâm đến sản phẩm trên bàn ăn, họ quan tâm đến mối tương quan của việc sản xuất ra nó với các yếu tố xã hội, con người, môi trường...

Các chiến lược hoạch định về thương hiệu nông sản của Nhà nước trong thời gian qua có vẻ không mấy hiệu quả bởi sự cứng nhắc và thiếu am hiểu tâm lý người tiêu dùng. “Sẽ không thể thành công nếu chỉ nhằm bán cái mà chúng ta có mà không bán cái mà thị trường cần” - ông Nguyễn Duy Hưng, Chủ tịch của tập đoàn PAN, một tập đoàn vừa huy động được gần 80 triệu đô la Mỹ để đầu tư vào các sản phẩm nông nghiệp cho biết. Khác với các “đại gia” khác cũng đang đánh tiếng về việc đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp, PAN cho thấy họ có một chiến lược phát triển xây dựng bền vững dựa trên mối quan hệ hữu cơ giữa sản phẩm nông nghiệp với con người, xã hội và môi trường. Với việc ra đời của một chuỗi sản phẩm thực phẩm được kiểm soát chặt chẽ nguồn gốc và khép kín, chiến lược của PAN nhằm phát triển chuỗi giá trị hoàn thiện Farm - Food - Family (Nông trại - Thực phẩm - Gia đình) để xây dựng nên một chuỗi những thương hiệu nông sản được tin tưởng ở Việt Nam và bước ra thế giới. Đây sẽ là thử nghiệm về một cách thức làm nông nghiệp mới, một cách thức mà người làm sản phẩm, người thu mua và chế biến, người tiêu dùng có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, đảm bảo cho nhau cùng phát triển bền vững, nơi mà “ruộng đất” được nhìn nhận như “nông trại”, nông sản được nhìn nhận như “thực phẩm” và các thương hiệu xuất hiện trên bàn ăn được tin tưởng như nền tảng đem lại sự phát triển an toàn đảm bảo và đầy đủ cho các thế hệ tương lai.

Một người đồng nghiệp của tôi, Andrew Harrison, trước khi gia nhập Brand Union, công ty thương hiệu hàng đầu thế giới hiện nay, với chức danh giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đã từng có một công việc mà tôi ghen tị. Cùng với một số người bạn, ông lập ra Brand Cellar, một tập đoàn chuyên đi tìm kiếm các thương hiệu mang tính “di sản” nhưng đã bị lãng quên, mua lại, thổi cho nó một luồng sinh khi mới, hiện đại hóa nó cho đáp ứng với nhu cầu của người tiêu dùng hiện đại, nâng giá trị thương hiệu cao lên rất nhiều. Brand Cellar đã hồi sinh rất nhiều những thương hiệu có giá trị, làm trọn vẹn vai trò của nó như một “hầm trữ thương hiệu” có giá trị. Khi nghĩ về những gì mà PAN đang định làm, tôi không khỏi hy vọng về một “hầm trữ thương hiệu” cho nông sản Việt Nam, khi các sản phẩm quý giá vốn đã bị bỏ quên, đánh mất, lạc hậu được trân trọng đưa về dưới một gia đình, được tiếp thêm sức mạnh, làm mới, hiện đại hóa để tạo ra một luồng sinh khí tích cực cho các thương hiệu nông nghiệp Việt Nam.

Hy vọng, đây sẽ là một khởi đầu cho một chương hoàn toàn mới của nông nghiệp Việt Nam.
PAN và chiến lược " Từ nông trại đến bàn ăn".       
Theo www.thesaigontimes.vn
    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com