Mobile: 078 33 88 911
Email: caytieuvn@gmail.com

18/8/14

(VINANET) - Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu đen lớn nhất thế giới, với khối lượng bán chiếm khoảng một nửa tổng mậu dịch toàn cầu. Việt Nam cũng mua hạt tiêu từ Campuchia, Indonesia và Brazil để tái xuất khẩu. Khối lượng nhập khẩu năm 2014 dự kiến đạt 20.000 tấn. Dự trữ từ năm 2013 ước còn 5.000 tấn. 

Hạt tiêu trắng chiếm gần 15% tổng xuất khẩu của Việt Nam. 

Vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 2 và kết thúc vào tháng 6. 

Ba tỉnh miền Nam và 3 tỉnh khác ở Tây Nguyên sản xuất tổng cộng 97,8% tổng sản lượng cả nước.
Hoa Kỳ, Singapore và Ấn Độ là những khách hàng chính trong 4 tháng đầu năm 2014. 

Dưới đây là bảng số liệu thống kê và dự báo về lúa gạo Việt Nam (Nguồn: Tổng cục Thống kê, các Bộ, các thương gia). 

Khối lượng xuất khẩu và sản lượng tính theo tấn, diện tích tính theo hécta
HẠT TIÊU ĐEN
2014
2013
2012
 Diện tích trồng
 63.300
62.000
58.900
 Sản lượng
125.000-130.000
 123.500
 112.700
 Xuất khẩu
145.000-150.000
 132.900
 117.000
2014
2013
XUẤT KHẨU
KHỐI LƯỢNG
TRỊ GIÁ
XUẤT KHẨU
KHỐI LƯỢNG
 Tháng 1- 5
95.500
 669 triệu USD
69.100
453 triệu USD

T.Hải
Nguồn: Vinanet/Reuters
Nông dân trồng tiêu ở Đông Nam bộ cho hay, giá tiêu hiện đạt mức kỷ lục trong lịch sử ngành hồ tiêu Việt Nam.

Theo đó giá tiêu trong vùng đã vượt qua mức 20.000 đồng/kg.

Theo các nông dân trồng tiêu ở Đông Nam bộ, giá tiêu trong mấy ngày qua đã vượt mức 200.000 đồng/kg.

'Trong vòng 20 năm qua, chưa có năm nào giá tiêu lại cao như năm nay, hiện ở mức 203.000 - 205.000 đồng/kg tiêu đen.

Năm ngoái cao nhất cũng chỉ có 180.000 đồng/kg', ông Lê Đình Thường, nông dân trồng tiêu ở Xuân Lộc, Đồng Nai cho biết.


Hồ tiêu đạt mức giá kỷ lục
Với mức giá này, nếu lấy bình quân năng suất 4 tấn/ha, sau khi trừ chi phí nông dân thu lãi khoảng 670 triệu đồng/ha.

Lý giải nguyên nhân tăng giá, Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam cho biết, do nhu cầu về hồ tiêu của thế giới tăng trong khi nguồn cung hạn chế.

Từ đầu năm đến nay, hồ tiêu là mặt hàng xuất khẩu có sự tăng trưởng mạnh mẽ.

Trong đó sản lượng xuất khẩu khoảng 120.000 tấn, trị giá 862 triệu USD, tăng 30% về lượng và 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

'Với tốc độ tăng kỷ lục này, ngành hồ tiêu sẽ dễ dàng vượt ngưỡng 1 tỷ USD trong năm nay với sản lượng xuất khẩu đạt 125.000 - 130.000 tấn', Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam nhận định.


Theo nongnghiep.vn

16/8/14

Thông tin từ Sở Công thương tỉnh Đồng Nai, giá hạt tiêu đen xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2014 bình quân đạt gần 7.600 USD/tấn, tăng trên 6% so với cùng kỳ năm trước.
Ảnh minh hoạ
Trong 7 tháng đầu năm, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã xuất khẩu được 4.500 tấn hạt tiêu đen với tổng giá trị 34,2 triệu USD. Riêng tháng 7-2014, toàn tỉnh xuất khẩu được 900 tấn, tăng khoảng 2 lần về lượng và 2,2 lần về giá trị. Giá hạt tiêu xuất khẩu tăng kéo theo giá hạt tiêu trong tỉnh tăng lên đến gần 190 ngàn đồng/kg. Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay.

Các thị trường xuất khẩu hạt tiêu đen lớn của Đồng Nai là Hoa Kỳ (20 triệu USD), Thái Lan (2 triệu USD), Anh (2 triệu USD), Thụy Điển (1 triệu USD),…


Hương Giang
Nguồn:  Báo Đồng Nai

15/8/14

 Hiện tiêu VN đã có mặt tại hơn 90 quốc gia, vùng lãnh thổ; giữ vị trí quan trọng trên thị trường tiêu thế giới.

Theo báo Công thương, từ tháng 1 - 7/2014, hạt tiêu vẫn đang duy trì 'phong độ' tăng trưởng ổn định cả về giá và lượng với kim ngạch xuất khẩu tăng 46,1% và giá xuất khẩu cũng tăng 10,6%.

Trong 7 tháng đầu năm, xuất khẩu tiêu đã đạt 119.000 tấn, tăng gần 29% so với cùng kỳ năm 2013, thu về 862 triệu USD.

4 thị trường nhập khẩu tiêu lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, Singapore, các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất và Ấn Độ.

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) nhận định, đến cuối năm 2014, kim ngạch xuất khẩu tiêu sẽ vượt ngưỡng 1 tỷ USD với lượng xuất khẩu khoảng 125.000 - 130.000 tấn.


Trong khi nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu bị rớt giá thì giá tiêu lại chạm ngưỡng cao nhất từ trước đến nay.

VPA cho hay, những ngày cuối cùng của tháng 7/2014, giá tiêu trung bình tại các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam bộ đã lên mức 187.000 - 188.000/kg, thậm chí có nơi lên tới 200.000 đồng/kg.

Mức giá này cao hơn từ 42.000 - 55.000 đồng/kg so với thời điểm đầu năm và cao hơn khoảng 65.000 - 80.000 đồng/kg so với 1 - 2 năm trước.

Giá tiêu trong nước tăng cao do giá thế giới tăng mạnh.

Tuy nhiên, các nhà tư vấn khuyến cáo: Công nghệ xử lý và chế biến hồ tiêu vẫn chưa được quan tâm nhiều, chủ yếu vẫn là tiêu đen và tiêu trắng chưa xay.

Vì thế, để phát triển tiềm năng của mặt hàng tiêu cần đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ vào chế biến để nâng cao giá trị tiêu xuất khẩu.

13/8/14

Thông tin từ các hộ trồng hồ tiêu tại huyện Châu Đức cho biết, hiện giá tiêu đã tăng mức kỷ lục, đạt 190-200 ngàn đồng/kg. Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay, với mức này người dân trồng có lãi 50-70%.

Chăm sóc cây tiêu tại xã Xà Bang (huyện Châu Đức).

Nguyên nhân khiến cho giá hạt tiêu tăng cao trong thời gian gần đây là do hạt tiêu Việt Nam đã xuất khẩu vào hầu hết các nước trên thế giới như Hoa Kỳ, Singapore, Ấn Độ hoặc những thị trường có mức tăng trưởng nhập khẩu cao gần đây như Pakistan, Thái Lan, Malaysia, Pháp...

Mới đây, Bộ NN-PTNT đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành hồ tiêu Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm tăng năng suất và giá trị ngành hồ tiêu đáp ứng nhu cầu thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu; khai thác lợi thế về đất đai, nguồn nước, khí hậu, thời tiết để phát triển hồ tiêu theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung, hiệu quả và bền vững. Mục tiêu của quy hoạch là phấn đấu đến năm 2020, tầm nhìn 2030 diện tích trồng hồ tiêu cả nước duy trì ổn định ở mức 50.000ha, năng suất đạt 30 tạ/ha, sản lượng đạt 140.000 tấn và sản phẩm tiêu chất lượng cao đạt 90%.

Riêng tại BR-VT là vùng trồng hồ tiêu trọng điểm của cả nước với diện tích được quy hoạch là 7.000ha.


Tin, ảnh: LAM GIANG
Nguồn: Báo BRVT

12/8/14

Tháng 7, hồ tiêu tiếp tục đạt mức tăng về sản lượng, giá trị xuất khẩu cao nhất so với mặt hàng nông sản khác.

Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam (VPA) cho biết:

Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 7 ước đạt 9.000 tấn, với giá trị đạt 74 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu từ tháng 1 - 7/2014 tăng gần 29% về khối lượng, tăng 42% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Đây là tháng thứ 7 liên tiếp, hồ tiêu đạt mức tăng về sản lượng lẫn giá trị xuất khẩu cao nhất so với các mặt hàng nông sản khác.

Ảnh minh họa
Trao đổi với VTV, ông Trần Đức Tụng, Chánh văn phòng VPA cho biết, niềm vui lớn nhất trong 7 tháng qua là giá tiêu luôn ở mức cao, nông dân có nhiều lợi nhuận.

Theo VPA, với tốc độ tăng trưởng ổn định trong thời gian qua, dự kiến năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu sẽ cán mức kỷ lục 1 tỷ USD, mức cao nhất trong lịch sử phát triển của ngành hồ tiêu Việt Nam.

Hồ tiêu Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vững vị trí xuất khẩu số 1 thế giới.

29/7/14

Trong thành phần nhiều loại phân bón gốc và bón lá hiện nay, ngoài chất hữu cơ và các chất đa – trung – vi lượng thông thường còn có  thêm axit humic. Bài viết sau đây nhằm giúp bà con hiểu rõ axit humic là chất gì và tác dụng lên cây trồng như thế nào…

Trong tự nhiên xác bã thực vật được vi sinh vật phân hủy tạo thành một hợp chất hữu cơ phức tạp là chất mùn, một nhân tố quan trọng tạo nên dộ phì nhiêu của đất. Trong chất mùn chứa nhiều loại acit hữu cơ như axit humic, axit fulvic, axit fugavic…, gọi chung là axit mùn. Trong số đó axit humic chiếm tỉ lệ nhiều nhất.

Humic là loại axit hữu cơ phức tạp, cấu tạo bởi nhiều thành phần hóa học, có khối lượng phân tử lớn, màu nâu đen, trung bình chứa 50% cacbon, 40% oxy, 5% hydro, 3% nitơ còn lại là lân, lưu huỳnh và các nguyên tố khác. Thành phần chính của axit humic là các vòng cacbon thơm có gắn các nhóm chức hoạt động như các nhóm cacboxyl, quinon, methoxyl…Hoạt tính sinh học của axit humic phụ thuộc vào hàm lượng của các nhóm chức này và khả năng trao đổi ion của chúng.

Axit humic cùng với các axit mùn khác bón vào đất có tác dụng kích thích sự phát triển của hệ rễ để hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn, cây sinh trưởng phát triển mạnh hơn. Nếu được hấp thu trực tiếp qua lá chúng sẽ giúp tăng cường sự quang hợp của cây do kích thích sự hoạt động của các men tham gia trong quá trình quang hợp. Cường độ quang hợp mạnh cây sẽ sinh trưởng nhanh. Ngoài ra axit humic còn làm tăng sức đề kháng của cây với sâu bệnh và các điều kiện bất lợi như nóng, rét, hạn, úng, chua phèn. Với các tác dụng trên, axit humic đang được khai thác sử dụng phổ biến trong các chế phẩm phân bón gốc và bón lá, chất kích thích sinh trưởng cây trồng và thuốc trừ bệnh cây.

Bình thường nếu bón các phân hữu cơ tự nhiên (như phân chuồng, phân xanh…) cũng sẽ tạo thành chất mùn và axit humic, ngoài việc tăng độ phì nhiêu cho đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và tăng sức đề kháng của cây. Tỉ lệ chất hữu cơ được phân hủy tạo thành mùn (gọi là hệ số mùn hóa) trong các loại phân chuồng đã ủ hoai trung bình 30 – 50%, phân xanh 20 – 30%. Than bùn là loại phân hữu cơ tự nhiên chứa một khối lượng khá lớn trong lòng đất, tạo thành các mỏ than bùn.

 Ở nước ta đã phát hiện và thăm dò nhiều mỏ than bùn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã thăm dò 8 mỏ than bùn (ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Hậu Giang, Long An) với trữ lượng khoảng 500 triệu m3. Than bùn ở các mỏ này có chất lượng tốt, hàm lượng mùn trung bình 40 – 50%, axit humic 20 – 30% và nhiều chất dinh dưỡng khác. Than bùn trở thành nguồn nguyên liệu chủ yếu cung cấp chất hữu cơ và axit humic cho công nghệ sản xuất phân hữu cơ hiện nay.

Axit humic không tan trong nước nên cây không hấp thụ trực tiếp được, phải chuyển thành dạng muối humat tan được trong nước và giảm độ chưa mới sử dụng cho cây trồng. Công việc này gọi là sự hoạt hóa axit humic, có thể dùng các loại muối kiềm như muối natri, muối kali, thường dùng nhất là nước amoniac. Than bùn nghiền nhỏ trộn với 2 -3% nước amoniac rồi ủ khoảng 5 – 6 giờ là phản ứng có thể xảy ra hoàn toàn.

Chất đạm trong nước amoniac gắn với gốc hữu cơ của axit humic tạo thành humat amôn, vừa dễ hòa tan vừa thêm chất đạm và giảm độ chua. Một số bà con ủ than bùn với vôi để bón, như vậy chỉ giảm độ chua và cung cấp thên chất hữu cơ cho đất chứ không có tác dụng hoạt hóa vì tạo thành humat canxi cũng rất khó tan trong nước, cây không sử dụng được.

Cũng có thể dùng vi sinh vật để hoạt hóa than bùn nhưng thời gian hoạt hóa lâu hơn dùng các muối kiềm, có thể phải 2 – 3 tháng.

Than bùn sau khi hoạt hóa có thể dùng làm phân bón ngay hoặc phối trộn thêm với các phân khoáng đa, trung và vi lượng để tạo thánh các loại phân hữu cơ – khoáng, hoặc trộn với vi sinh vật có ích tạo thành phân hữu cơ – vi sinh. Các loại phân hữu cơ được chế biến từ than bùn đã hoạt hóa không những cung cấp chất hữu cơ, vi sinh vật và các chất dinh dưỡng cho đất mà còn sử dụng được tính chất kích thích sinh trưởng vả tăng sức đề kháng cho cây trồng của axit humic.

Các humat trong than bùn đã hoạt hóa cũng được tách chiết để chế thành các phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng và thuốc phòng trừ bệnh cây. Trong các chế phẩm phân bón thường ghi hàm lượng axit humic, cần hiểu rằng đây là humat, tức là muối của axit humic (giống như trường hợp thuốc trừ cỏ 2,4D chính là muối của axit 2,4D). Tùy loại chế phẩm mà hàm lượng axit humic khác nhau. Trong phân hữu cơ vi sinh bón gốc thường chứa từ 2 – 5 %, còn phân bón lá hàm lượng axit humic thường cao hơn, lên tới 15 – 20%.

Axit humic còn được sử dụng trong các thuốc bảo vệ thực vật phòng trừ bệnh cây, giúp tăng cường sức kháng bệnh cho cây như bệnh nghẹt rễ, lở cổ rễ, đốm lá, sương mai cho cây trồng cạn và các bệnh đạo ôn, khô vằn, vàng lá cho lúa.

Với tác dụng thích thích sinh trưởng và tăng sức đề kháng cho cây, lại tương đối dễ khai thác và chế biến với khối lượng lớn từ các mỏ than bùn, axit humic đang trở thành hoạt chất hữu cơ được sử dụng ngày càng phổ biến, góp phần vào quá trình phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

Theo: Báo Nông Nghiệp
Cùng với thời gian, người nông dân nên thay đổi và cố gắng áp dụng những kỹ thuật mới nếu như họ muốn thành công. Cho dù là trên một hay 100 mẫu đất, người nông dân phải sẵn sàng để thử nghiệm những kỹ thuật mới…

Ông V. Veeraraghavan, làng Mudaiyur, Thirukazhikundram, Tamil Nadu (Ấn Độ) là một ví dụ tiêu biểu cho cái cách mà một người nông dân chỉ với diện tích từ 2 đến 3 mẫu đất được tổ tiên để lại, ông đã nhanh chóng thành công trong việc phát triển cây dưa hấu, mở rộng diện tích lên 120 mẫu nhờ sản xuất hiệu quả bằng việc sử dụng axit humic.

Sau một khóa học về nông nghiệp, ông Veeraraghavan may mắn được tiếp xúc với ông Raja Intheren – một cố vấn nông nghiệp – người đã chỉ dạy cho ông cách tiếp nhận diện tích đất canh tác thuê lại, trên cơ sở đó trồng một số vụ mùa ngắn hạn để bán sản phẩm với giá tốt.

Sau một số vụ thử nghiệm, ông Veeraraghavan đã bắt đầu sử dụng 120 mẫu đất trên để trồng dưa hấu.

Tại sao ông ấy lại chọn dưa hấu? Ông Veeraraghavan lý giải : Dưa hấu là loại quả trồng ngắn hạn (khoảng 60 ngày) và nếu được làm trong một diện tích lớn thì người nông dân có thể kiếm được lợi nhuận tốt. Không chỉ có loại dưa hấu thông thường (dưa hấu đỏ), người nông dân cũng có thể phát triển đa dạng với các loại dưa hấu vàng, dưa hấu màu da cam.

Để khẳng định tác dụng của axit humic đối với sản lượng dưa hấu, ông Veeraraghavan đã tiến hành thử nghiệm trên chính cánh đồng của mình. Có 100 mẫu đất trồng dưa ông sử dụng hóa chất phân bón thông thường. Còn 20 mẫu dưa hấu còn lại, ông thử nghiệm sử dụng axit humic. Kết quả cho thấy thật đáng ngạc nhiên: Sau khi sử dụng axit humic, sản lượng tăng từ 10 lên đến 12 tấn/mẫu. Điều này giúp ông nhanh chóng quyết định sử dụng axit humic cho toàn bộ diện tích đất trồng dưa hấu của mình.

Hiệu quả sử dụng axit humic so với đối chứng như thế nào? Nếu người nông dân thực hiện canh tác trên 20 mẫu đất cho một vụ thu hoạch thì chi phí mà họ bỏ ra để mua phân bón, thuốc trừ sâu là khoảng 10.000 Rs (Rupee – đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, 1USD~46,11 Rs). Nhưng nếu sử dụng axit humic cho cùng diện tích đất canh tác trên, người nông dân sẽ chỉ mất khoảng 1.000 Rs - một chi phí thấp hơn rất nhiều, trong khi năng suất lại tăng.

Hiện nay, giá của một chai axit humic 1 lít là 25Rs, nó được pha loãng trong 2 lít nước và phun cho 1 mẫu. Hoặc cũng có thể được trộn với đất trồng (pha loãng với khoảng 10 đến 20 lít nước). Những tác dụng tốt của axit humic đối với việc tăng sản lượng dưa hấu đang ngày càng phổ biến ở Ấn Độ.


Thái Thị Như Quỳnh
Trường ĐH Nông Lâm HCM

Ký hiệu: Humic
Phương pháp phân tích:

1. Tìm hiểu về Axit Humic

Axit Humic nguồn gốc tự nhiên từ sự phân hủy của thực vật và vi sinh vật. Axit Humic là nền tảng của tất cả các đất đai màu mỡ. Trong nhiều năm, axit humic tích lũy trong đất để giúp đất tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng, khả năng giữ nước, là nguồn thức ăn cho các vi sinh vật có lợi cho đất. Đây là cách để giảm thiểu tổn thất chất dinh dưỡng để duy trì độ phì nhiêu của đất và đảm bảo phát triển bền vững của thiên nhiên.

2. Tác dụng của Axit Humic


Tất cả các loại đất cát đều có cấu trúc mở (thông hơi) do đó có thể hút, thoát nước dễ dàng. Cấu trúc mở này và đặc tính thấm hút tự do của đất cát cũng cho phép hầu hết các dưỡng chất trong phân bón được dùng có thể dễ dàng xuyên qua mặt đất. Bề mặt của phân tử cát khó có thể giữ nước và dưỡng chất. Kết quả là, các dưỡng chất bị trôi hết vào mạch nước ngầm và cây không thể hấp thụ được. Chất dinh dưỡng bị mất do bị rửa trôi như thế đã gây ra thiệt hại lớn về kinh tế cho người trồng cây và có hại cho môi trường. Đất phì nhiêu luôn có hàm  lượng chất hữu cơ  rất lớn. Lượng chất hữu cơ này làm cho hầu hêt các loại đất có khả năng giữ lại và tạo ra những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. Những chất hữu cơ có giá trị cao cho cây trồng như thế có rất nhiều trong muối Axit Humic gồm nhóm Cacbonxilic và hoá chất phê-no-lic. Chính những phân tử có bề mặt tích điện âm này có khả năng giữ lại tất cả các dưỡng chất  trong phân bón. Muối Axit humic cũng có khả năng giữ nước rất tốt giống như chất hữu cơ.

 
Axit Humic giữ một lượng lớn chất dinh dưỡng từ phân bón vào đất (thành dạng Humate) cho đến khi cây trồng sẵn sàng sử dụng chúng.
Axit humic rất hiệu quả trong việc tạo vòng càng với nhiều chất dinh dưỡng và quan trọng hơn, trong việc giữ nước

Axit humic cũng giúp bẻ gãy mối liên kết giữa các chất dinh dưỡng trong đất, làm cho cây trồng dễ hấp thu hơn.
RCOO-H (Axit humic) + Dinh dưỡng = RCOO-Dinh dưỡng (Humate) + H+

Rễ cây + RCOO-Dinh dưỡng (Humate) = Rễ cây - Dinh dưỡng + RCOOH (Axit humic)

Axit Humic hiện diện trong đất giữ một lượng lớn các vi lượng và các da lượng xung quanh rễ cây để cung cấp tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho rễ nhanh chóng hấp thu và giúp cây trồng phát triển tối ưu. Axit Humic cũng cải thiện độ ẩm và khả năng giữ nước của đất. Giúp đỡ cho nông dân và người trồng có thể đạt được vụ mùa lớn thông qua việc sử dụng hiệu quả hơn các loại phân bón và duy trì độ phì của đất lâu dài.

3. Nồng độ Axit Humic khi phun lên lá lúa

Phun axit humic lên lá lúa có tác dụng tốt đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa, tăng năng suất lý thuyết và năng suất thực thu so với đối chứng bón phân vô cơ. Nồng độ axit humic thích hợp để phun lên lá là 0,03%, cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn (năng suất lúa tăng 12,1-19,4% so với đối chứng bón phân vô cơ). Các thời kỳ phun đều có hiệu quả tương đương nhau, có thể phun thêm vào cả hai thời kỳ đẻ nhánh và làm đòng.

Trung tâm NCPT SP
Theo: Tiến Nông
    CÂY TIÊU VIỆT NAM
    caytieuvn@gmail.com